KẾT CỤC SƠ SINH CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP THAI CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG TỬ CUNG TỪ 37 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu: Nhận xét kết cục sơ sinh ở các trường hợp thai CPTTTC từ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang tiến cứu trên 139 sản phụ từ 37 tuần được chẩn đoán thai CPTTTC. Sau đó theo dõi và đánh giá kết cục thai kỳ về phía con của các sản phụ có chỉ định nhập viện và chấm dứt thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Kết quả: Kéo dài tuổi thai càng làm tăng mức độ nặng thai CPTTTC , p< 0,05. Cân nặng trung bình lúc sinh là 2320 ± 153,2 gram. Có 01 trường hợp trẻ sơ sinh tử vong, chiếm 0,7%, thuộc nhóm BPV < 3rd. Tỷ lệ Apgar 1 phút < 7 điểm là 3,6%. Tỷ lệ Apgar 5 phút < 7 điểm là 0,7%. Biến chứng hay gặp nhất là suy hô hấp và nhiễm khuẩn sơ sinh chiếm tỷ lệ tương đương nhau 6,5%. Tỷ lệ trẻ điều trị NICU là 28,1%. Doppler động mạch rốn bất thường có liên quan và làm tăng nguy cơ trẻ sơ sinh có điểm Apgar 1 phút < 7, p< 0,05. Chỉ số não rốn ≤ 1 có liên quan và làm tăng nguy cơ trẻ sơ sinh nhập NICU, p<0,05.
Kết luận: Lựa chọn chính xác thời điểm chấm dứt thai kì để tránh những biến chứng bất lợi cho thai như suy hô hấp, tử vong sơ sinh... Chỉ số não rốn, Doppler động mạch rốn có giá trị trong việc phát hiện những thay đổi bất thường của thai CPTTTC nhằm quyết định thời điểm chấm dứt thai kì và tiên lượng kết cục sơ sinh.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Thai chậm phát triển trong tử cung, kết cục sơ sinh.
Tài liệu tham khảo
2. Haroun Heshmat SW. Intrauterine Growth Restriction, Antomy Physiol Biochem Int J. 2017; 1(5), 001-005, DOI: 10.19080/APBIJ.2017.01.555572
3. Kady Sue M và Gardosi, Jason. Perinatal mortality and fetal growth restriction. Best Practice Research Clinical Obstetrics Gynaecology. 2004; 18(3), tr. 397-410, DOI: 10.1016/j.bpobgyn.2004.02.009
4. Thạch Thảo Đan Thanh, Bùi Chí Thương. Kết cục thai chậm tăng trưởng trong tử cung có chỉ định chấm dứt thai kỳ tại Bệnh viện Từ Dũ. Y học thành phố Hồ Chí Minh. 2017; tr. 21(1), 97-101, DOI: 10.56535/jmpm.v49i9.911
5. Unterscheider, Julia và các cộng sự. Optimizing the definition of intrauterine growth restriction: the multicenter prospective PORTO Study. American Journal Of Obstetrics Gynecology. 2013; 208(4), tr. 290. e1-290. e6, DOI: 10.1016/j.ajog.2013.02.007
6. Hasmasanu Monica G và các cộng sự. Neonatal short-term outcomes in infants with intrauterine growth restriction. Saudi Medical Journal. 2015; 36(8), tr. 947, DOI: 10.15537/smj.2015.8.11533
7. Vũ Quang Linh. Nghiên cứu về giá trị chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong ba năm từ 2005 – 2007, Trường Đại học Y Hà Nội. 2007.
8. Sharma Prachi và Mehta Amiya U. Study of fetomaternal implications in intrauterine growth restriction pregnancies. International Journal of Reproduction, Contraception, Obstetrics Gynecology. 2024; 13(4), tr. 895-899, DOI: https://doi.org/10.18203/2320-1770.ijrcog20240783
9. D'Agostin Martina và các cộng sự. Long-term implications of fetal growth restriction. World Journal Of Clinical Cases. 2023; 11(13), tr. 2855, DOI: 10.12998/wjcc.v11.i13.2855
10. Nguyễn Thị Bích Vân. Kết cục thai nghén của thai chậm phát triển trong tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 2020 đến 2023. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2025; 66(CĐ11-NCKH), DOI: https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD11.2811
11. Lê Thị Kiều Trang, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang. Kết cục thai kì ở thai chậm tăng trưởng trong tử cung từ 34 tuần nhập viện tại Bệnh viện Hùng Vường, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh. 2017.
12. Figueras Francesc và các cộng sự. Small-for-gestational-age fetuses with normal umbilical artery Doppler have suboptimal perinatal and neurodevelopmental outcome. European Journal of Obstetrics Gynecology Reproductive Biology. 2008; 136(1), tr. 34-38, DOI: 10.1016/j.ejogrb.2007.02.016