NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ THAI KỲ CỦA NHỮNG SẢN PHỤ NHIỄM HIV/AIDS SINH CON TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Nguyễn Vũ Hà Anh1, Đỗ Tuấn Đạt1, Phan Thị Huyền Thương1
1 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

          Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng của những sản phụ nhiễm HIV/AIDS sinh con tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội và kết quả thai kỳ.


          Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 100 trường hợp sản phụ được chẩn đoán nhiễm HIV và sinh con tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 01/01/2022 đến 31/12/2023.


          Kết quả: Tuổi trung bình của sản phụ là 32,44 ± 6,18. Phần lớn sản phụ đã có từ một con trở lên, không có sản phụ nào từng có con nhiễm HIV. Đa số sản phụ kết thúc thai kỳ bằng mổ lấy thai, chiếm 87%. Phần lớn trường hợp chỉ định mổ lấy thai ở sản phụ nhiễm HIV vì lý do sản khoa, chiếm 80,4%, trong đó mổ vì sẹo mổ đẻ cũ chiếm tỷ lệ cao nhất với 65,8%. 13,8% trường hợp chỉ định mổ vì dự phòng lây truyền mẹ con. Việc sử dụng thuốc PLTMC có ảnh hưởng đáng kể đến lựa chọn cách thức đẻ, sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,001. Về tình hình sơ sinh, phần lớn các trường hợp nghiên cứu là thai đủ tháng (≥ 37 tuần) chiếm 89%. Đa số trẻ sơ sinh có cân nặng từ 2500g đến 3500g, chiếm 90%. 98% trường hợp có trẻ đẻ ra không nhiễm HIV. Có mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV của trẻ đẻ ra với việc sử dụng thuốc PLTMC với p < 0,001 và với cách thức đẻ với p = 0,008.


          Kết luận: Tỷ lệ trẻ đẻ ra nhiễm HIV là 2%. Đa số sản phụ nhiễm HIV kết thúc thai kỳ bằng mổ lấy thai, trong đó mổ vì sẹo mổ cũ chiếm tỷ lệ cao nhất. Việc sử dụng thuốc PLTMC và mổ lấy thai có liên quan tới việc giảm khả năng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Sử dụng thuốc PLTMC có ảnh hưởng đáng kể đến lựa chọn cách thức đẻ của sản phụ nhiễm HIV.


Từ khóa: sản phụ nhiễm HIV, thuốc PLTMC, mổ lấy thai

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] K. M. De Cock et al., “Prevention of mother-to-child HIV transmission in resource-poor countries: translating research into policy and practice,” JAMA, vol. 283, no. 9, pp. 1175–1182, Mar. 2000, doi: 10.1001/jama.283.9.1175.
[2] Nguyễn Liên Phương, “Nhận xét về thái độ xử trí trong chuyển dạ của sản phụ có HIV/AIDS năm 2008 tại bệnh viện Phụ sản Trung ương,” luận văn bác sỹ chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội, 2009.
[3] Mai Thị Anh, “Nghiên cứu thái độ xử trí sản khoa ở sản phụ nhiễm HIV/AIDS đẻ tại Bệnh viện phụ sản Trung Ương trong 2 năm 2012-2013,” luận văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội, 2014.
[4] Đỗ Mạnh Tùng, “Nghiên cứu thái độ xử trí trong chuyển dạ ở sản phụ nhiễm HIV/AIDS tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong hai giai đoạn 2005-2015,” luận văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội, 2016.
[5] S. Ferrero, G. Gotta, G. Melica, B. Biasotti, G. Ravera, and G. Bentivoglio, “162 HIV-1 infected pregnant women and vertical transmission. Results of a prospective study,” Minerva Ginecol, vol. 54, no. 5, pp. 373–385, Oct. 2002.
[6] S. Ferrero and G. Bentivoglio, “Post-operative complications after caesarean section in HIV-infected women,” Arch Gynecol Obstet, vol. 268, no. 4, pp. 268–273, Oct. 2003, doi: 10.1007/s00404-002-0374-8.
[7] L. Mandelbrot et al., “Perinatal HIV-1 transmission: interaction between zidovudine prophylaxis and mode of delivery in the French Perinatal Cohort,” JAMA, vol. 280, no. 1, pp. 55–60, Jul. 1998, doi: 10.1001/jama.280.1.55.
[8] Lương Tâm Phúc, “Nhận xét việc theo dõi thai và xử trí sản phụ nhiễm HIV đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong 5 năm 2006-2010,” Đại học Y Hà Nội, 2011.
[9] Đỗ Thu Thủy, “Tình hình lây truyền HIV từ mẹ sang con tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng giai đoạn 2004-2008,” Tạp chí hội nghị sản phụ khoa Việt Pháp 2009, pp. 18–24, 2008.