ĐẶC ĐIỂM U BUỒNG TRỨNG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC MỔ LÀNH TÍNH, SAU MỔ ÁC TÍNH HOẶC GIÁP BIÊN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Nguyễn Mạnh Trí1, Hoàng Đăng Thông1
1 Bệnh viện Bắc Thăng Long

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân u buồng trứng chẩn đoán trước mổ lành tính, sau mổ ác tính hoặc giáp biên tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.


Đối tượng nghiên cứu: 86 trường hợp u buồng trứng được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2024.


Phương pháp nghiên cứu: Quan sát mô tả loạt ca bệnh.


Kết quả: Trong 5233 trường hợp chẩn đoán trước mổ lành tính, có 86 bệnh nhân (1,6%) được xác định ác tính hoặc giáp biên sau mổ. Phần lớn ở độ tuổi sinh sản. Triệu chứng thường gặp: đau bụng (54,7%), rối loạn kinh nguyệt, rối loạn tiểu tiện. Khám lâm sàng ghi nhận 87,2% u một bên, 53,5% bờ không rõ, 72,1% không di động, 48,8% đau khi khám. Trong mổ: 5,8% có sần sùi, tăng sinh mạch; 26,7% dính; 3,5% vỡ u; 12,8% có dịch ổ bụng; 22,1% có ít nhất một dấu hiệu nghi ngờ ác tính. Hình ảnh học cho thấy 46,5% thuộc O-RADS 4-5. CA-125 tăng ở 52,3% và thang điểm ROMA nguy cơ cao ở 40,7% bệnh nhân.


Kết luận: U buồng trứng trước mổ lành tính, sau mổ ác tính hoặc giáp biên thường xuất hiện triệu chứng lâm sàng với phân độ ORADS 4-5, gần một nửa có thang điểm ROMA nguy cơ cao, tỷ lệ xuất hiện yếu tố ác tính trong mổ thấp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Kotani Y, Umemoto M et al. Ovarian tumor cases that were preoperatively diagnosed as benign but postoperatively confirmed as borderline or malignant after laparoscopic surgery. Gynecology and Minimally Invasive Therapy, 2013, 2 (4): 122-125. https://doi.org/10.1016/j.gmit.2013.07.002
[2] Moore R.G, Miller M.C et al. Evaluation of the diagnostic accuracy of the risk of ovarian malignancy algorithm in women with a pelvic mass. Obstet Gynecol, 2011, 118 (2 Pt 1): 280-288. doi: 10.1097/AOG.0b013e318224fce2.
[3] Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Đức Tuấn, Vũ Văn Quý. Giá trị của xét nghiệm CA-125, HE4, chỉ số ROMA, chỉ số Copenhagen trong chẩn đoán ung thư buồng trứng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2023, 165 (4): 179-187. https://doi.org/10.52852/tcncyh.v165i4.1553
[4] Trương Quang Vinh, Nguyễn Tuấn Minh và cộng sự. Kết quả phẫu thuật u buồng trứng tại Bệnh viện Phụ Sản Nam Định. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 548 (1): 35-39. https://doi.org/10.51298/vmj.v548i1.13275
[5] Tạ Thị Thúy Hằng, Lê Thị Anh Đào. Nhận xét phân loại O-RADS siêu âm trong chẩn đoán khối u buồng trứng tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 537 (1): 182-186. https://doi.org/10.51298/vmj.v537i1.9022
[6] Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Quốc Tuấn và cộng sự. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xử trí u nhầy buồng trứng tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2022, 149 (1): 100-107. https://doi.org/10.52852/tcncyh.v149i1.443
[7] Trần Thị Thu Hường, Lê Trí Tiến Thành, Đào Thị Hoa, Nguyễn Tuấn Minh. Một số đặc điểm u buồng trứng lành tính được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Thanh Nhàn. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 548 (2): 169-173. https://doi.org/10.51298/vmj.v548i2.13403
[8] Zanaboni F, Vergadoro F et al. Tumor antigen CA-125 as a marker of ovarian epithelial carcinoma. Gynecol Oncol, 1987, 28 (1): 61-67. doi: 10.1016/s0090-8258(87)80009-4
[9] Jamdade K, Hashi A, Deo N. Clinical characteristics, surgical management, and outcomes of borderline ovarian tumours: A retrospective observational study from North East London. J Clin Med, 2025, 14 (7): 2383. doi: 10.3390/jcm14072383
[10] Phan Đức Long, Lê Thị Anh Đào, Trương Quang Vinh. Tìm hiểu vai trò của CA-125, HE4 và ROMA test trong dự đoán ung thư buồng trứng tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 510 (1): 263-266. https://doi.org/10.51298/vmj.v510i1.1946