THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BUỒNG TIÊM TRUYỀN DƯỚI DA Ở NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐẦU CỔ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN

Nguyễn Thị Tố Uyên1, Nguyễn Thị Thanh Hải1, Bùi Thị Huyền1
1 Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá thực trạng sử dụng buồng tiêm truyền dưới da ở người bệnh ung thư đầu cổ điều trị hoá chất.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 35 người bệnh ung thư đầu cổ có chỉ định điều trị hóa chất và được đặt buồng tiêm truyền tại Khoa Nội I - Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, từ tháng 03/2025 đến tháng 08/2025. Các tiêu chí đánh giá bao gồm biến chứng, khả năng duy trì hoạt động, mức độ đau, tuân thủ quy trình chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh.


Kết quả: Độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 61,03 ± 7,9 tuổi, 100% là nam giới. Ung thư hạ họng - thanh quản chiếm tỷ lệ cao nhất (57,1%); phần lớn được chẩn đoán ở giai đoạn III - IV (94,3%). Tỷ lệ chỉ định đặt buồng ngay từ khi bắt đầu hóa trị là 77,1% và 94,3% catheter được đặt qua tĩnh mạch cảnh trong phải. Mức độ đau khi cắm kim qua thang điểm VAS chủ yếu ở mức nhẹ (71,4% đạt 2 điểm). Tỷ lệ tuân thủ đúng quy trình chăm sóc điều dưỡng đạt 91,4%. Tỷ lệ biến chứng thấp (2,9% nhiễm trùng tại chỗ và 2,9% tắc nghẽn), có mối liên quan ý nghĩa giữa việc tuân thủ chăm sóc và giảm biến chứng (p = 0,005). Tỷ lệ người bệnh hài lòng và rất hài lòng đạt 74,3%.


Kết luận: Buồng tiêm truyền dưới da được sử dụng ở người bệnh ung thư đầu cổ truyền hoá chất có tỷ lệ biến chứng thấp, khả năng duy trì hoạt động tốt, mức độ đau nhẹ và mức độ hài lòng cao. Tuân thủ đúng quy trình chăm sóc điều dưỡng liên quan  tỷ lệ biến chứng buồng tiêm truyền thấp hơn có ý nghĩa thống kê.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Bray F., Laversanne M., Sung H. và cộng sự. (2024). Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin, 74(3), 229–263.
2. Nickel B., Gorski L., Kleidon T. và cộng sự. (2024). Infusion Therapy Standards of Practice, 9th Edition. J Infus Nurs, 47(1S Suppl 1), S1–S285.
3. Lê Văn Long, Hoàng Công Tùng, và Nguyễn Thanh Hùng (2023). Đánh giá kết quả sử dụng buồng tiêm truyền để truyền hoá chất cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Bạch Mai. Số 134 (06-2023), 54–60.
4. Nguyễn Thị Vượng, Phạm Duy Mạnh, và Trần Trung Bách (2025). Đánh giá tính an toàn và chất lượng sống của bệnh nhân ung thư điều trị hoá chất qua buồng tiêm truyền tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 553 (số 1), 194–198.
5. Hawker G.A., Mian S., Kendzerska T. và cộng sự. (2011). Measures of adult pain: Visual Analog Scale for Pain (VAS Pain), Numeric Rating Scale for Pain (NRS Pain), McGill Pain Questionnaire (MPQ), Short-Form McGill Pain Questionnaire (SF-MPQ), Chronic Pain Grade Scale (CPGS), Short Form-36 Bodily Pain Scale (SF-36 BPS), and Measure of Intermittent and Constant Osteoarthritis Pain (ICOAP). Arthritis Care Res (Hoboken), 63 Suppl 11, S240-252.
6. Trương Thị Hoàng Ny, Nguyễn Thị Hồng Chuyên, Hà Thanh Thanh và cộng sự. (2024). Kết quả đặt buồng tiêm tĩnh mạch dưới da (Port-a-cath) trên bệnh nhân ung thư. Tạp Chí Y Dược Huế, 14 (số 7), 116–120.
7. Broadhurst D., Cooke M., Sriram D. và cộng sự. (2023). International Consensus Recommendation Guidelines for Subcutaneous Infusions of Hydration and Medication in Adults. J Infus Nurs, 46(4), 199–209.