TỔNG QUAN CHẨN ĐOÁN VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ NỘI MẠC TỬ CUNG

Nguyễn Khánh Văn1, Nguyễn Thanh Tùng1, Huỳnh Thanh Phong1
1 Trường Đại học Võ Trường Toản

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu tổng quan này nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung trong những năm gần đây.


Phương pháp: Nghiên cứu tổng quan mô tả.


Kết quả: Bệnh chủ yếu gặp ở độ tuổi 56-58, gắn liền chặt chẽ với hội chứng chuyển hóa (béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp). Triệu chứng ra máu âm đạo bất thường chiếm tỷ lệ rất cao (90-95,5%). Trên siêu âm ngả âm đạo, bề dày nội mạc ≥ 15,8 mm và điểm Doppler > 2 theo tiêu chuẩn IETA là các dấu hiệu dự báo ác tính mạnh mẽ. Phẫu thuật (ưu tiên nội soi) kết hợp hóa-xạ trị bổ trợ là phác đồ chủ đạo. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 5 năm tại Việt Nam đạt xấp xỉ 80%, tiệm cận với các thử nghiệm quốc tế lớn như PORTEC-3 hay NSGO/EORTC.


Kết luận: Triệu chứng ra máu âm đạo và siêu âm Doppler IETA có giá trị cao trong tầm soát, chẩn đoán sớm. Việc cá thể hóa phác đồ điều trị đa mô thức dựa trên phân tầng nguy cơ giúp cải thiện rõ rệt thời gian sống còn cho người bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Giang Châu. Nghiên cứu kết quả điều trị và một số yếu tố tiên lượng ung thư biểu mô nội mạc tử cung giai đoạn I-II. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2020.
[2] Khúc Chí Hiếu và cộng sự. Kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung tái phát bằng phác đồ Paclitaxel-Carboplatin và một số yếu tố ảnh hưởng. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 508 (2): 295-299. doi: 10.51298/vmj.v508i2.1654
[3] Nguyễn Tuấn Hưng và cộng sự. Nhận xét một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư nội mạc tử cung. Tạp chí Y học thực hành, 2012, 822: 58-61.
[4] Nguyễn Phúc Nhơn và cộng sự. Giá trị của bề dày nội mạc trong tiên đoán ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ ra máu bất thường quanh và sau mãn kinh. Tạp chí Phụ Sản, 2021, 19: 31-38. doi: 10.46755/vjog.2021.3.1268
[5] Lê Võ Nhật Thành và cộng sự. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật trên bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung tại Bệnh viện Ung bướu thành phố Cần Thơ năm 2021-2023. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2023, 61: 279-285.
[6] Nghiêm Phương Thảo và cộng sự. Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 525 (1B): 28-33. doi: 10.51298/vmj.v525i1B.5025
[7] Ngô Phan Thanh Thúy và cộng sự. Phẫu thuật nội soi trong ung thư nội mạc tử cung. Tạp chí Phụ Sản, 2019, 16 (4): 92-97. doi: 10.46755/vjog.2019.4.575
[8] Phạm Thị Thu Trang và cộng sự. Kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung giai đoạn III tại Bệnh viện K. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 513 (2): 233-239. doi: 10.51298/vmj.v513i2.2478
[9] Ariyanto T.B et al. External comparison of endometrial cancer patients performed laparoscopic surgery and performed laparotomy surgery at Dr. Soetomo Hospital in 2017. Medical and Health Science Journal, 2020, 4 (1): 55-62.
[10] Buda A et al. The risk of recurrence in endometrial cancer patients with low-volume metastasis in the sentinel lymph nodes: a retrospective multi-institutional study. Cancers (Basel), 2023, 15 (7): 2052. doi: 10.3390/cancers15072052.
[11] de Boer S.M et al. Adjuvant chemoradiotherapy versus radiotherapy alone in women with high-risk endometrial cancer (PORTEC-3): patterns of recurrence and post-hoc survival analysis of a randomised phase 3 trial. Lancet Oncol, 2019, 20 (9): 1273-1285. doi: 10.1016/S1470-2045(19)30395-X.
[12] Didkowska J et al. Cancer incidence and mortality in Poland in 2019. Scientific Reports, 2022, 12 (1): 10875. doi: 10.1038/s41598-022-14779-6.
[13] Gungorduk K et al. Is mucinous adenocarcinoma of the endometrium a risk factor for lymph node involvement? A multicenter case-control study. Int J Clin Oncol, 2015, 20: 782-789. doi: 10.1007/s10147-014-0767-2
[14] Hogberg T et al. Sequential adjuvant chemotherapy and radiotherapy in endometrial cancer--results from two randomised studies. Eur J Cancer, 2010, 46 (13): 2422-31. doi: 10.1016/j.ejca.2010.06.002
[15] Maggi R et al. Adjuvant chemotherapy vs radiotherapy in high-risk endometrial carcinoma: results of a randomised trial. Br J Cancer, 2006, 95 (3): 266-71. doi: 10.1038/sj.bjc.6603279.