THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ 3 TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ ĐÔNG NĂM 2026

Nguyễn Phương Thảo1, Nguyễn Hoàng Nam2, Nguyễn Thị Linh2, Trần Đức Phong2, Nguyễn Tuấn Đại3, Nguyễn Quang Tình4, Nguyễn Thị Ái Hương4
1 Bệnh viện Thanh Nhàn
2 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1
4 Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng lo âu của sinh viên năm thứ ba Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông năm 2026.


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 10/2025 đến tháng 6/2026 trên 554 sinh viên năm thứ ba hệ chính quy. Nghiên cứu áp dụng điều tra toàn bộ; tất cả sinh viên đủ tiêu chuẩn trong thời gian nghiên cứu đều được mời tham gia. Mức độ lo âu được đánh giá bằng thang HAM-A; số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc, nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.


Kết quả: Nữ giới chiếm 82,9%, sinh viên có quê quán nông thôn chiếm 57,4% và 39,5% đang sống cùng bố mẹ. Phần lớn đối tượng không sử dụng chất tác động tâm thần (89,9%), nhưng 36,8% ghi nhận có sang chấn tâm lý và chỉ 15,2% tập thể dục thường xuyên. Tỷ lệ trung bình theo các mức điểm HAM-A lần lượt là 49,06% ở điểm 0; 36,13% ở điểm 1; 12,24% ở điểm 2; 2,12% ở điểm 3 và 0,44% ở điểm 4. Như vậy, nhóm không có hoặc chỉ có biểu hiện nhẹ chiếm 85,19%, trong khi nhóm biểu hiện nặng và rất nặng chỉ chiếm 2,56%. Các lĩnh vực nổi bật hơn gồm căng thẳng, giảm tập trung, trạng thái lo âu và mất ngủ.


Kết luận: Biểu hiện lo âu ở sinh viên năm thứ ba chủ yếu ở mức không có hoặc nhẹ, song các triệu chứng tâm lý và rối loạn giấc ngủ xuất hiện khá phổ biến. Nhà trường cần tăng cường sàng lọc sớm, tư vấn tâm lý học đường và các biện pháp hỗ trợ cải thiện giấc ngủ, kỹ năng ứng phó stress cho sinh viên.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Hohls J.K, König H.H, Quirke E, Hajek A. Anxiety, depression and quality of life: a systematic review of evidence from longitudinal observational studies. International Journal of Environmental Research and Public Health, 2021, 18 (22): 12022. doi: 10.3390/ijerph182212022
[2] Quek T.T.C, Tam W.W.S, Tran B.X, Zhang M, Zhang Z, Ho C.S.H et al. The global prevalence of anxiety among medical students: a meta-analysis. International Journal of Environmental Research and Public Health, 2019, 16 (15): 2735. doi: 10.3390/ijerph16152735.
[3] Nguyễn Thu Hằng, Vũ Thị Hoài Oanh, Chu Thị Thu, Bùi Thị Huyền. Khảo sát rối nhiễu lo âu của sinh viên năm thứ tư Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2019, 2 (2): 83-88.
[4] Phạm Tường Vân, Lê Nhật Quang. Rối loạn lo âu lan tỏa ở sinh viên chuyên ngành y học dự phòng tại Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2024-2025 và một số yếu tố liên quan. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (5): 276-282. doi: 10.52163/yhc.v66i5.3132.
[5] Thompson E. Hamilton Rating Scale for Anxiety (HAM-A). Occup Med, 2015, 65 (7): 601. doi: 10.1093/occmed/kqv054.
[6] Phan Minh Hoàng, Ngô Quốc Cường, Cao Nguyễn Hoài Thương. Rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở sinh viên Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2024, 64 (CĐ5). doi: 10.52163/yhc.v64i4.717.
[7] Dabbagh R, Almuhanna A, Alsaad S et al. Depression, stress, anxiety and burnout among undergraduate and postgraduate medical trainees in Saudi Arabia over two decades: a systematic review. Medical Teacher, 2023, 45 (5): 1-10, doi: 10.1080/0142159X.2022.2139669.
[8] Shao R, He P, Ling B, Tan L, Xu L, Hou Y et al. Prevalence of depression and anxiety and correlations between depression, anxiety, family functioning, social support and coping styles among Chinese medical students. BMC Psychology, 2020, 8 (1): 38. doi: 10.1186/s40359-020-00402-8.
[9] Nepal S, Atreya A, Adhikari K, Acharya B, Menezes R.G, Sapkota L.P. Health risk behaviors among medical and nursing students of Lumbini Medical College, Nepal: a cross-sectional study. Health Science Reports, 2024, 7 (10): e70140. doi: 10.1002/hsr2.70140