ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT DO KLEBSIELLA PNEUMONIAE

Vũ Thị Trang1, Lê Thị Thảo1, Hoàng Thị Bình1, Vũ Đình Hùng1, Nguyễn Thị Thu Hiền1
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở người bệnh nhiễm khuẩn huyết do Klebsiella pneumoniae (K. pneumoniae) điều trị tại Khoa truyền nhiễm - Bệnh viện đa khoa Hải Dương từ 01/01/2023 đến 30/09/2025.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 31 người bệnh được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết do K. pneumoniae.


Kết quả: Tuổi trung bình 66,0 ± 15,98 tuổi; trên 60 tuổi chiếm 67,7%; nam giới chiếm 58,1%; 70,1% có bệnh lý nền (hay gặp là bệnh tim mạch và đái tháo đường cùng chiếm 35,5%; xơ gan chiếm 9,4% và gút mạn chiếm 6,5%). Đường vào hay gặp nhất từ đường hô hấp và tiêu hóa (19,4%). 54,9% nhập viện trong khoảng thời gian 1-3 ngày từ khi khởi phát bệnh. Có 6,5% nặng chuyển tuyến trên và 3,2% bệnh nhân nặng xin về. Thời gian nằm viện trung bình là 15,16 ± 6,9 ngày. 90,3% người bệnh có triệu chứng sốt với biểu hiện thường gặp là sốt vừa – sốt cao (70,9%), sốt cơn (87,1%), có rét run (16,1%). Không có bệnh nhân sốc, suy hô hấp. HA trung bình 88,5 ± 14,68 mmHg, mạch trung bình 93,9 ± 15,3 chu kỳ/phút. Trung bình số lượng bạch cầu là 10,6 ± 6,2 G/l; 66,7% có tăng bạch cầu Neutrophil > 75%. Trung bình nồng độ CRP là 100,6 ± 65,7 mg/l, có 60% tăng CRP > 100 mg/l. Trung bình nồng độ PCT là 16,7 ± 25,4 ng/ml, 40% người bệnh có nồng độ PCT > 10 ng/ml. Tỷ lệ áp xe gan là 8,3 %.


Kết luận: Nhiễm khuẩn huyết do K. pneumoniae hay gặp ở người cao tuổi, nam giới, có bệnh lý nền, đường vào từ đường hô hấp và tiêu hóa, gây rối loạn nhiều cơ quan.


 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Singer M, Deutschman CS, Seymour CW, Shankar-Hari M, Annane D, Bauer M, et al. The third international consensus definitions for sepsis and septic shock (Sepsis-3). JAMA. 2016;315(8):801-810.
[2] Rudd KE, Johnson SC, Agesa KM, Shackelford KA, Tsoi D, Kievlan DR, et al. Global, regional, and national sepsis incidence and mortality, 1990-2017: analysis for the Global Burden of Disease Study. Lancet. 2020;395(10219):200-211.
[3] Gatica S, Fuentes B, Rivera-Asín E, et al. Novel evidence on sepsis-inducing pathogens: from laboratory to bedside. Front Microbiol. 2023;14:1198200.
[4] Trịnh Văn Sơn. Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của Klebsiella và E.coli ,Luận án Tiến sĩ Y học. Hà Nội: Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108; 2021.
[5] Võ Triều Lý và cộng sự. Tỉ lệ của chủng Klebsiella pneumoniae độc lực cao và các gen đề kháng kháng sinh trong những trường hợp nhiễm trùng huyết do Klebsiella pneumoniae. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;546(3).
[6] Đỗ Thị Tuyết Chinh. Thực trạng kháng kháng sinh của K. pneumoniae phân lập tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương năm 2022. Truyền nhiễm Việt Nam. 2023;03(43):32-38.
[7] Hyun M, Noh CI, Ryu SY, et al. Changing trends in clinical characteristics and antibiotic susceptibility of Klebsiella pneumoniae bacteremia. Korean J Intern Med. 2018;33(3):595-598.
[8] Nguyễn Lan Hương, Thân Mạnh Hùng, Lê Văn Nam. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do Klebsiella pneumoniae. Vietnam Medical Journal. 2021;(2):74-77.
[9] Angele MK, Pratschke S, Hubbard WJ, et al. Gender differences in sepsis: cardiovascular and immunological aspects. Virulence. 2014;5(1):12-19.
[10] Khadse SN, Ugemuge S, Singh C. Impact of antimicrobial stewardship on reducing antimicrobial resistance. Cureus. 2023;15(12):e49935.
[11] Jeon K, Na SJ, Oh DK, et al. Characteristics, management and clinical outcomes of patients with sepsis: a multicenter cohort study in Korea. Acute Crit Care. 2019;34(3):179-182.
[12] Nguyễn Thị Phương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố tiên lượng nặng ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết do Klebsiella. Luận văn Thạc sĩ Y học. Hà Nội: Học viện Quân y; 2016.