ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SẢN PHỤ SINH CON SO ĐỦ THÁNG CÓ CHỈ ĐỊNH MỔ LẤY THAI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI DƯƠNG

Hà Thị Thanh Loan1, Vũ Đình Hùng1
1 Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và khảo sát sơ bộ một số yếu tố liên quan ở sản phụ sinh con so đủ tháng được chỉ định mổ lấy thai tại Bệnh viện phụ sản Hải Dương.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu 235 sản phụ mang thai con so đủ tháng nhập viện, trong đó 137 sản phụ có chỉ định mổ lấy thai (MLT) tại Bệnh viện Phụ sản Hải Dương từ 01/10/2024 đến 31/12/2024.


Kết quả: Nhóm tuổi 20-30 chiếm 79,2%. Nghề tự do (41,7%) và công nhân (30,6%). Sống ở thành thị (76,3%) và chiều cao trên 150 cm (85,5%). Tỷ lệ mổ lấy thai ở sản phụ con so là 58,3%. Vào viện chủ yếu vì đau bụng (74,5%), khám có độ mở tử cung ≤ 2 cm (91,2%), cơn co tử cung thưa (92,7%), siêu âm ối bình thường (90,5%), rau bình thường (99,3%), ối còn (89,0%), tim thai 120 – 160 nhịp/phút (95,6%), trọng lượng thai 2500 – 3499g (66,4%). Tỷ lệ sản phụ MLT do ≥ 2 chỉ định chiếm 19%, liên quan đến thai và phần phụ của thai (84,0%). Các sản phụ cao 145 – 150 cm có chỉ định MLT cao hơn đẻ đường âm đạo, p < 0,05.


Kết luận: Tỷ lệ mổ lấy thai con so là khá cao, chủ yếu do nguyên nhân thai và phần phụ của thai. Chiều cao có liên quan đến chỉ định mổ lấy thai của sản phụ.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Boerma T et al. (2018). Global epidemiology of use of and disparities in caesarean sections. The Lancet, 392(10155), 1341–1348. https://doi.org/10.1016/S0140-6736(18)31928-7
[2] Betrán A.P. et al. (2015). WHO statement on caesarean section rates. BJOG: An International Journal of Obstetrics and Gynaecology, 123(5), 667.
[3] Lê Văn Tuyên và cộng sự. (2025). Nghiên cứu kết cục thai kỳ của sản phụ mang thai con so đủ tháng tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 20(8). https://doi.org/10.52389/ydls.v20i8.2886
[4] Tô Mai Chi và cộng sự. (2024). Tỷ lệ mổ lấy thai và các yếu tố liên quan ở sản phụ mang thai con so tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai năm 2023. Tạp chí Y học Việt Nam, 540(2). https://doi.org/10.51298/vmj.v540i2.10354
[5] Vũ Văn Du và cộng sự (2025). Nghiên cứu mô tả chỉ định và yếu tố tác động mổ lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 192(7), 143–151. https://doi.org/10.52852/tcncyh.v192i7.3383
[6] Khổng Thị Vân và cộng sự. (2023). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các sản phụ mổ lấy thai con so đủ tháng tại Viện 19-8 Bộ Công an. Tạp chí Y học Việt Nam, 520(1B). https://doi.org/10.51298/vmj.v520i1B.3849
[7] Mogren, Ingrid. (2018). Maternal height and risk of caesarean section in singleton births in Sweden: A population-based study using data from the Swedish Pregnancy Register 2011 to 2016. Reproductive Medicine, 13(5). https://www.ncbi.nlm.nih.gov
[8] Phùng Ngọc Hân và cộng sự (2017). Chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Tạp chí Phụ sản, 15(1). https://doi.org/10.46755/vjog.2017.1.309
[9] Nguyễn Tài Đức. (2019). Nhận xét một số yếu tố liên quan đến chỉ định mổ lấy thai ở người con so tại khoa Đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
[10] Nguyễn Cơ Thạch. (2022). Thực trạng mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh. Luận văn Chuyên khoa Cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội.
[11] Bùi Văn Dũng. (2022). Nghiên cứu về chỉ định mổ lấy thai ở sản phụ con so với tuổi thai từ 37 tuần trở lên tại Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa năm 2020. Luận văn Chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội.
[12] Phiewphone Sivongsa, Phạm Bá Nha, Nguyễn Thái Giang. (2024). Nghiên cứu về chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp chí Y học Việt Nam, 534(1). https://doi.org/10.51298/vmj.v534i1.8071