KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT GAN NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TẾ BÀO GAN: KINH NGHIỆM TỪ MỘT TRUNG TÂM

Quách Văn Kiên1, Nguyễn Đình Hiếu1,2
1 Trường Đại học Y Hà Nội
2 Bệnh viện Ung bướu Nghệ An

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt gan trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tại một trung tâm.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 280 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được phẫu thuật nội soi cắt gan tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An trong giai đoạn từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2025. Các biến số nghiên cứu bao gồm đặc điểm lâm sàng, chức năng gan (Child-Pugh), nồng độ AFP, đặc điểm phẫu thuật, biến chứng trong và sau mổ, thời gian nằm viện và thời gian sống thêm sau phẫu thuật. Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và theo dõi sau mổ, xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.


Kết quả: Tuổi trung bình 65,2 ± 14,3; tỷ lệ nam/nữ = 3,2/1. Phần lớn bệnh nhân có chức năng gan Child-Pugh A (96,8%), nồng độ AFP chủ yếu trong khoảng 20-400 ng/mL (47,5%). Phẫu thuật nội soi hoàn toàn chiếm 93,9% trường hợp. Tỷ lệ cắt gan nhỏ là 60,3%, trong đó cắt phân thùy sau là phổ biến nhất (16,7%). Tỷ lệ cắt gan lớn là 39,5%, bao gồm cắt gan trái (19,3%), gan phải (13,9%) và cắt gan trung tâm (6,9%). Thời gian mổ trung bình 116 ± 35,7 phút; lượng máu mất trung bình 235 ± 73 mL. Tỷ lệ không biến chứng cao cả trong mổ (94,7%) và sau mổ (92,5%), biến chứng sau mổ thường gặp nhất là rò mật (3,2%). Thời gian nằm viện trung bình 7,8 ± 1,4 ngày. Thời gian sống thêm trung bình sau mổ đạt 46,8 ± 1,5 tháng.


Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt gan là phương pháp an toàn, khả thi và mang lại kết quả điều trị tốt trong ung thư biểu mô tế bào gan, có thể áp dụng hiệu quả tại các trung tâm có kinh nghiệm khi lựa chọn bệnh nhân phù hợp.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Bray F, Laversanne M, Sung H et al. Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries. CA Cancer J Clin, 2024, 74 (3): 229-263. doi: 10.3322/caac.21834
[2] Yang J.D, Hainaut P, Gores G.J, Amadou A, Plymoth A, Roberts L.R. A global view of hepatocellular carcinoma: trends, risk, prevention and management. Nat Rev Gastroenterol Hepatol, 2019, 16 (10): 589-604. doi: 10.1038/s41575-019-0186-y
[3] Bộ Y tế. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan (Ban hành kèm theo Quyết định số 3129/QĐ-BYT, ngày 17 tháng 7 năm 2020).
[4] Park M.S, Cho J.Y, Kim E et al. Surgical treatment of hepatocellular carcinoma: an expert consensus-based practical recommendation from the Korean Liver Cancer Association. J Liver Cancer, 2025, 25 (2): 140-159. doi: 10.17998/jlc.2025.08.05
[5] Cassese G, Giannone F, Cipriani F et al. Laparoscopic versus open liver resection for huge hepatocellular carcinoma (≥ than 10 cm): a multicenter propensity score-matched analysis from Eastern and Western referral centers. Surg Endosc, 2026, 40 (4): 3151-3157. doi: 10.1007/s00464-026-12597-9
[6] Peng Y, Liu F, Xu H, Lan X, Wei Y, Li B. Outcomes of laparoscopic liver resection for patients with multiple hepatocellular carcinomas meeting the Milan criteria: a propensity score-matched analysis. J Laparoendosc Adv Surg Tech A. 2019; 29 (9): 1144-1151. doi: 10.1089/lap.2019.0362
[7] Hồ Văn Linh, Hồ Võ Hoài Phương, Đặng Quốc Ái. Kết quả phẫu thuật nội soi cắt gan. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 551 (1): 33-37. doi:1 0.51298/vmj.v551i1.14447
[8] Amin N, Anwar J, Sulaiman A, Naumova N.N, Anwar N. Hepatocellular carcinoma: a comprehensive review. Diseases, 2025, 13 (7): 207. doi: 10.3390/diseases13070207
[9] Elderkin J, Al Hallak N, Azmi A.S et al. Hepatocellular carcinoma: surveillance, diagnosis, evaluation and management. Cancers, 2023, 15 (21): 5118. doi: 10.3390/cancers15215118
[10] Liu Y, Jiang W, Li X, Zhao H, Wang S. The diagnostic performance of AFP, AFP-L3, DCP, CA199, and their combination for primary liver cancer. J Hepatocell Carcinoma, 2025, 12: 513-526. doi: 10.2147/JHC.S499966