KẾT QUẢ CHUYỂN PHÔI THỂ KHẢM TẠI TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH SẢN QUỐC GIA

Nguyễn Thị Thanh Lam1, Nguyễn Thị Thu Hà1,2, Đặng Hồng Hải1, Nguyễn Việt Quang2, Hồ Sỹ Hùng2,3, Dương Thị Trà Giang2, Đặng Thu Hằng2, Kiều Mạnh Hùng2, Trương Quang Vinh1, Mạc Thị Mỹ Linh4
1 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
3 Trường Đại học Y Hà Nội
4 Bệnh viện Đại học Phenikaa

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả chuyển phôi thể khảm tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2024.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 33 bệnh nhân chuyển phôi thể khảm tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia từ tháng 1-12 năm 2024.


Kết quả: Nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân phức tạp (48,48% ≥ 35 tuổi) cho thấy quá trình kích thích buồng trứng hiệu quả, thu được 7,76 ± 5,78 phôi nang. Tỷ lệ thai diễn tiến đạt 30,3%, cao hơn một số nghiên cứu quốc tế, chứng minh hiệu quả của chiến lược lựa chọn phôi. 100% trẻ sinh ra đủ tháng, có cân nặng bình thường (≥ 2500g), khẳng định tính an toàn cho sơ sinh. Kết quả này cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng, hỗ trợ xây dựng phác đồ tối ưu hóa chuyển phôi khảm tại Việt Nam.


Kết luận: Chuyển phôi thể khảm là một lựa chọn điều trị khả thi và an toàn trong trường hợp không còn phôi nguyên bội. Mức độ và tính chất khảm là những yếu tố tiên lượng quan trọng cần được cân nhắc khi xây dựng chiến lược lựa chọn phôi.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Nakhuda G et al. Frequencies of chromosome-specific mosaicisms in trophoectoderm biopsies detected by next-generation sequencing. Fertil Steril, 2018, 109 (5): 857-865. doi: 10.1016/j.fertnstert.2018.01.011
[2] Lee C.I et al. Healthy live births from transfer of low-mosaicism embryos after preimplantation genetic testing for aneuploidy. J Assist Reprod Genet, 2020, 37 (9): 2305-2313. doi: 10.1007/s10815-020-01876-6.
[3] Taylor T.H et al. The origin, mechanisms, incidence and clinical consequences of chromosomal mosaicism in humans. Hum Reprod Update, 2014, 20 (4): 571-581. doi: 10.1093/humupd/dmu016.
[4] Munné S et al. Maternal age, morphology, development and chromosome abnormalities in over 6000 cleavage-stage embryos. Reprod Biomed Online, 2007, 14 (5): 628-634. doi: 10.1016/S1472-6483(10)61057-7.
[5] Campos G et al. Blastocoel fluid as an alternative source of DNA for minimally invasive PGT and biomarker of embryo competence. Reprod Biomed Online, 2024, 49 (4): 104322. doi: 10.1016/j.rbmo.2024.104322.
[6] Treff N.R et al. The “mosaic” embryo: misconceptions and misinterpretations in preimplantation genetic testing for aneuploidy. Fertil Steril, 2021, 116 (5): 1205-1211. doi: 10.1016/j.fertnstert.2021.06.027
[7] Viotti M et al. Chromosomal, gestational, and neonatal outcomes of embryos classified as a mosaic by preimplantation genetic testing for aneuploidy. Fertil Steril, 2023, 120 (5): 957-966. doi: 10.1016/j.fertnstert.2023.07.022
[8] Spinella F et al. Extent of chromosomal mosaicism influences the clinical outcome of in vitro fertilization treatments. Fertil Steril, 2018, 109 (1): 77-83. doi: 10.1016/j.fertnstert.2017.09.025
[9] Morales R et al. Perinatal and postnatal outcomes up to the third year of life after the transfer of mosaic embryos compared with euploid embryos. Fertil Steril, 2024, 122 (3): 537-539. doi: 10.1016/j.fertnstert.2024.04.040
[10] Phạm Thị Anh và cộng sự. Kết cục thai kỳ trên những trường hợp chuyển phôi thể khảm và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, 2021-2023. Tạp chí Y học dự phòng, 2024, 34 (2): 94-100. doi: 10.51403/0868-2836/2024/1627.