KHẢ NĂNG PHÂN BIỆT SUY TIM CỦA KHOẢNG TPEAK-TEND VÀ CHỈ SỐ TPEAK-TEND/QT Ở NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Khoảng Tpeak-Tend và tỷ số Tpeak-Tend/QT là các chỉ dấu điện tâm đồ phản ánh sự phân tán tái cực thất và nguy cơ loạn nhịp. Tuy nhiên, giá trị chẩn đoán suy tim của các chỉ số này ở bệnh nhân tăng huyết áp vẫn còn gây tranh cãi.
Mục tiêu: Đánh giá giá trị của khoảng Tpeak-Tend và tỷ số Tpeak-Tend/QT trong chẩn đoán suy tim ở bệnh nhân tăng huyết áp.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 109 bệnh nhân tăng huyết áp được điều trị tại Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 12/2022 đến tháng 10/2023. Trong đó, có 79 bệnh nhân suy tim và 30 bệnh nhân không suy tim. Điện tâm đồ tiêu chuẩn 12 chuyển đạo được phân tích để đo khoảng Tpeak-Tend và QT bằng phương pháp tiếp tuyến. Tỷ Tpeak-Tend/QT được tính toán tại các chuyển đạo trước tim V1–V6. Phân tích đường cong ROC được thực hiện để đánh giá khả năng chẩn đoán.
Kết quả: Bệnh nhân suy tim có khoảng Tpeak-Tend dài có ý nghĩa ở tất cả các chuyển đạo trước tim so với nhóm không suy tim (trung bình V1–V6: 87,30 ± 9,01 ms so với 77,21 ± 6,83 ms; p < 0,001). Khoảng QT không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm (p > 0,05). Tỷ số Tpeak-Tend/QT cũng cao hơn có ý nghĩa ở nhóm suy tim (0,218 ± 0,023 so với 0,199 ± 0,024; p < 0,001). Phân tích ROC cho thấy Tpeak-Tend có giá trị chẩn đoán tốt (AUC = 0,811) và Tpeak-Tend/QT có giá trị chẩn đoán mức khát tốt (AUC = 0,709). Ngưỡng cắt tối ưu là ≥ 79,16 ms đối với Tpeak-Tend (độ nhạy 86,1%, độ đặc hiệu 63,3%) và ≥ 0,209 đối với Tpeak-Tend/QT (độ nhạy 69,6%, độ đặc hiệu 73,3%).
Kết luận: Ở bệnh nhân tăng huyết áp, khoảng Tpeak-Tend và tỷ số Tpeak-Tend/QT tăng có ý nghĩa ở những bệnh nhân có suy tim. Tpeak-Tend cho thấy giá trị chẩn đoán tốt và Tpeak-Tend/QT có khả năng chẩn đoán ở mức khá tốt. Các chỉ dấu phân tán tái cực này có thể đóng vai trò như những công cụ điện tâm đồ bổ sung hữu ích trong phát hiện suy tim ở quần thể bệnh nhân tăng huyết áp.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Tpeak-Tend; Tpeak-Tend/QT; suy tim; tăng huyết áp.
Tài liệu tham khảo
2. Xue C., Hua W., Cai C. và cộng sự. (2019). Predictive value of Tpeak-Tend interval for ventricular arrhythmia and mortality in heart failure patients with an implantable cardioverter-defibrillator: A cohort study. Medicine (Baltimore), 98(49), e18080.
3. McEvoy J.W., McCarthy C.P., Bruno R.M. và cộng sự. (2024). 2024 ESC Guidelines for the management of elevated blood pressure and hypertension. Eur Heart J, 45(38), 3912–4018.
4. McDonagh T.A., Metra M., Adamo M. và cộng sự. (2021). 2021 ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure. Eur Heart J, 42(36), 3599–3726.
5. Antzelevitch C., Brugada P., Borggrefe M. và cộng sự. (2005). Brugada Syndrome: Report of the Second Consensus Conference: Endorsed by the Heart Rhythm Society and the European Heart Rhythm Association. Circulation, 111(5), 659–670.
6. Morin D.P., Saad M.N., Shams O.F. và cộng sự. (2012). Relationships between the T-peak to T-end interval, ventricular tachyarrhythmia, and death in left ventricular systolic dysfunction. Europace, 14(8), 1172–1179.
7. Panikkath R., Reinier K., Uy-Evanado A. và cộng sự. (2011). Prolonged Tpeak-to-Tend Interval on the Resting ECG Is Associated With Increased Risk of Sudden Cardiac Death. Circ Arrhythm Electrophysiol, 4(4), 441–447.
8. Gupta P., Patel C., Patel H. và cộng sự. (2008). Tp-e/QT ratio as an index of arrhythmogenesis. J Electrocardiol, 41(6), 567–574.
9. Wachtell K., Okin P.M., Olsen M.H. và cộng sự. (2007). Regression of Electrocardiographic Left Ventricular Hypertrophy During Antihypertensive Therapy and Reduction in Sudden Cardiac Death: The LIFE Study. Circulation, 116(7), 700–705.