KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỆ SINH TAY CỦA HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG TÂN SƠN NHÌ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2025

Trần Thị Thúy Hồng1, Phan Thanh Hòa2, Huỳnh Thị Hồng Thu3, Nguyễn Nhựt Trường4, Phạm Phúc Ngân5
1 Học viên Cao học Trường Đại học Trà Vinh, Trạm Y tế phường Phú Thọ Hòa
2 Trường Cao Đẳng Y tế Đồng Tháp
3 Trường Đại học Trà Vinh
4 Trường Đại học Y dược Cần Thơ
5 Phòng Khám Chuyên Khoa Thẩm Mỹ GTPT, Ninh Kiều Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành vệ sinh tay của học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn phường Tân Sơn Nhì, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025.


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn phường Tân Sơn Nhì, Thành phố Hồ Chí Minh.


Kết quả: Nghiên cứu cho thấy kiến thức và thực hành vệ sinh tay của học sinh còn hạn chế. Mặc dù 58,47% học sinh biết đúng về kỹ thuật rửa tay, chỉ 34,7% biết đúng số bước, nên tỷ lệ đạt kiến thức chung chỉ là 31,6%. Về thực hành, một số hành vi riêng lẻ có tỷ lệ khá cao như rửa tay trước khi ăn ở nhà (90,9%), rửa tay bằng xà phòng (72,2%) và rửa tay sau khi chạm vào đồ vật công cộng (71,8%). Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành chung đạt chỉ là 36,1% vì nghiên cứu đánh giá thực hành theo 8 hành vi, và chỉ học sinh thực hiện đúng ít nhất 6/8 hành vi mới được xếp loại đạt. Do đó, nhiều em tuy thực hiện tốt một số hành vi quen thuộc nhưng vẫn chưa đạt khi xét tổng thể. Ngoài ra, học sinh chưa đạt kiến thức có khả năng thực hành chưa đạt cao hơn 1,7 lần so với nhóm đạt kiến thức; mối liên quan này có ý nghĩa thống kê (OR = 1,7; KTC95%: 1,1–2,6; p = 0,013).


Kết luận: Nghiên cứu trên 418 học sinh cho thấy chỉ 31,6% đạt kiến thức và 36,1% thực hành đúng vệ sinh tay; tỷ lệ rửa tay sau khi đi vệ sinh tại trường rất thấp (36,1%). Kiến thức có liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực hành (p < 0,05), cho thấy cần tăng cường giáo dục và cải thiện điều kiện rửa tay trong trường học.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 – Văn bản luật, quy định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện vệ sinh cá nhân, bao gồm rửa tay để phòng bệnh.
[2] Chương trình số 218/CTr-BGDĐT-BYT ngày 04 tháng 3 năm 2022 phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế về công tác y tế trường học, chăm sóc sức khỏe trẻ em, học sinh, sinh viên giai đoạn 2022 – 2026.
[3] Nguyễn Đăng Vững và các cộng sự (2021). Kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh tay của học sinh trung học cơ sở và một số yếu tố lien quan. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 144(8), 45–57. DOI: https://doi.org/10.52852/tcncyh.v144i8.403
[4] Trạm Y tế phường Tân Sơn Nhì (2024). Vệ sinh tay cho trẻ: Hành động nhỏ - hiệu quả lớn.
[5] Enkhbat, M., et al (2025). Changes in handwashing knowledge, attitudes, and practices among primary schoolchildren in Ulaanbaatar, Mongolia during the COVID-19 pandemic. Frontiers in Public Health, 13, Article 1570178. https://doi.org/10.3389/fpubh.2025.1570178
[6] UNICEF (2024. Hand hygiene for all – The call to action for schools. https://www.unicef.org.
[7] World Health Organization & United Nations Children’s Fund (2024). Progress on drinking water, sanitation and hygiene in schools: 2000–2023 data update. WHO/UNICEF Joint Monitoring Programme. https://washdata.org.
[8] U.S. Centers for Disease Control and Prevention (2024). Handwashing Facts. https://www.cdc.gov/clean-hands/data-research/facts-stats/?CDC_AAref_Val=https://www.cdc.gov/handwashing/why-handwashing.html accessed on 17/5/2024
[9] World Health Organization, & United Nations Children’s Fund (2020). Hand hygiene for all: Improving access and behaviour in schools. WHO & UNICEF. https://www.who.int/publications/i/item/WHO-2019-nCoV-Hand_Hygiene-2020.