ĐẶC ĐIỂM RĂNG CỬA BÊN VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI TIÊU CHÂN RĂNG Ở CÁC TRƯỜNG HỢP RĂNG NANH HÀM TRÊN NGẦM MỘT BÊN TRÊN HÌNH ẢNH CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH CHÙM TIA HÌNH NÓN
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá các đặc điểm liên quan của răng cửa bên kế cận ở các trường hợp răng nanh hàm trên ngầm một bên, bao gồm so sánh chiều dài răng cửa bên giữa hai bên và khảo sát mối liên quan giữa mức độ chồng lắp, khoảng cách nanh-răng cửa bên với tình trạng tiêu chân răng cửa bên trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang phân tích trên 43 trường hợp răng nanh hàm trên ngầm một bên được đánh giá trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón. Chiều dài răng cửa bên được so sánh giữa bên có và bên không có răng ngầm trong cùng một bệnh nhân. Mối liên quan giữa mức độ chồng lắp, khoảng cách nanh-răng cửa bên và mức độ tiêu chân răng được phân tích bằng hệ số tương quan Spearman.
Kết quả: Chiều dài răng cửa bên ở bên có răng ngầm ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với bên không có răng ngầm (21,6 ± 3,2 mm so với 22,2 ± 2,4 mm; p = 0,013). Mức độ chồng lắp tương quan thuận với mức độ tiêu chân răng cửa bên (rho = 0,389; p = 0,010), trong khi khoảng cách nanh-răng cửa bên tương quan nghịch với mức độ tiêu chân răng (rho = -0,323; p = 0,035). Khoảng cách nanh-răng cửa bên ở nhóm có tiêu chân răng nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có tiêu chân răng (p = 0,047).
Kết luận: Ở các trường hợp răng nanh hàm trên ngầm một bên, răng cửa bên cùng phía có thể có những đặc điểm liên quan về hình thái, đồng thời tương quan không gian nanh-răng cửa bên có liên quan đến tình trạng tiêu chân răng. Chụp cắt lớp vi tính chùm tia hình nón có giá trị trong phát hiện sớm nguy cơ tổn thương răng kế cận và hỗ trợ đánh giá trước điều trị.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Răng nanh hàm trên ngầm, răng cửa bên, tiêu chân răng, cắt lớp vi tính chùm tia hình nón.
Tài liệu tham khảo
[2] Ericson S, Kurol P.J. Resorption of incisors after ectopic eruption of maxillary canines: a CT study. Angle Orthod, 2000, 70 (6): 415-23. doi: 10.1043/0003-3219(2000)070<0415:ROIAEE>2.0.CO;2.
[3] Liu D.G, Zhang W.L, Zhang Z.Y, Wu Y.T, Ma X.C. Localization of impacted maxillary canines and observation of adjacent incisor resorption with cone-beam computed tomography. Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod, 2008, 105 (1): 91-8. doi: 10.1016/j.tripleo.2007.01.030.
[4] Alqerban A, Jacobs R, Lambrechts P, Loozen G, Willems G. Root resorption of the maxillary lateral incisor caused by impacted canine: a literature review. Clinical Oral Investigations, 2009, 13 (3): 247-255. doi: 10.1007/s00784-009-0262-8.
[5] Oberoi S, Knueppel S. Three-dimensional assessment of impacted canines and root resorption using cone beam computed tomography. Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology, Oral Radiology, and Endodontology, 2012, 113 (2): 260-267. doi: 10.1016/j.tripleo.2011.03.035.
[6] Mitsea A, Palikaraki G, Karamesinis K, Vastardis H, Gizani S, Sifakakis I. Evaluation of lateral incisor resorption caused by impacted maxillary canines based on CBCT: a systematic review and meta-analysis. Children, 2022, 9 (7): 1006. doi: 10.3390/children9071006.
[7] Peralta-Mamani M et al. CBCT vs panoramic radiography in assessment of impacted upper canine and root resorption of the adjacent teeth: a systematic review and meta-analysis. Journal of Clinical and Experimental Dentistry, 2024, 16 (2): e198-e222. doi:10.4317/jced.61285.
[8] Vi Thị Hồng, Trần Cao Bính. Đặc điểm hình thái răng nanh vĩnh viễn hàm trên ngầm qua phim cắt lớp vi tính chùm tia hình nón. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 506 (1): 229-233. doi: 10.51298/vmj.v506i1.1209.
[9] Võ Thị Thúy Hồng, Trịnh Đình Hải. Kết quả điều trị kéo răng ngầm với sự hỗ trợ của phim CBCT. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 511 (1): 53-57. doi: 10.51298/vmj.v511i1.2040.