NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TRẺ SƠ SINH NON THÁNG TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

Nguyễn Thị Tâm1, Nguyễn Mai Hương2, Nguyễn Thị Hiền3
1 Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, Vinmec Healthcare System
2 Lớp YK 14-01 - Trường Đại học Đại Nam
3 Bộ môn Y học gia đình, Trường Đại học Y dược, Đại học Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm của trẻ sơ sinh non tháng điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 110 trẻ sinh non tháng (< 37 tuần) tại Trung Tâm Nhi Khoa, Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên.


Kết quả: Trẻ nam 69,1%. Tuổi thai trung bình là 33,3 ± 1,52 tuần. Tỷ lệ non muộn (64,5%), non vừa (19,1%), rất non (9,1%) và cực non (7,3%). Cân nặng >2500 g (63,6%), 1500–2500 g (19,1%). Chiều dài cơ thể 42,5 ± 2,1 cm; vòng đầu 31,1 ± 2,2 cm. Rối loạn nhịp thở ghi nhận (45,5%). Mạch nhanh (54,3%) và mạch chậm (4,4%). Nhiệt độ cơ thể dao động từ 36,0–37,4°C, phân bố đồng đều giữa hai nhóm 36,0–36,7°C và 36,7–37,4°C (mỗi nhóm 50%). Có 18,2% trẻ có phản xạ sơ sinh chậm và 26,4% trẻ có trương lực cơ yếu.


Kết luận: Trẻ sinh trong nghiên cứu chủ yếu là sinh non muộn, với nhiều rối loạn thích nghi sau sinh như bất thường hô hấp, nhịp tim và trương lực cơ, cần theo dõi sát và chăm sóc sơ sinh phù hợp theo mức độ non tháng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] W. H. Organization, Born too soon: decade of action on preterm birth. World Health Organization (in eng), 2023.
[2] H. Blencowe et al., "National, regional, and worldwide estimates of preterm birth rates in the year 2010 with time trends since 1990 for selected countries: a systematic analysis and implications," (in eng), The lancet, vol. 379, no. 9832, pp. 2162-2172, 2012. doi: 10.1016/S0140-6736(12)60820-4
[3] UNICEF and W. H. Organization, "Levels and trends in child mortality: report 2023," (in eng), 2024.
[4] Q. H. Điệp and N. T. X. Hương, "Tỷ lệ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trẻ sơ sinh non tháng thiếu máu tại bệnh viện sản nhi Ninh Bình năm 2025," (in VI), Tạp chí Y học Việt Nam, vol. 556, no. 1, 2025.
[5] Bộ Y Tế (2015). Quyết định số 315/QĐ-BYT Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh Sản Phụ khoa.
[6] Bộ Y Tế "Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản," (in Vi), Chảy máu trong nửa đầu thai kỳ, pp. 87-91, 2016.
[7] T. Gera, D. Shah, P. Garner, M. Richardson, and H. S. Sachdev, "Integrated management of childhood illness (IMCI) strategy for children under five," (in eng), Cochrane Database of Systematic Reviews, no. 6, 2016.
[8] H. T. Thắm, "Kết quả chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Vinmec Times City.(Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Điều dưỡng)," TLU, 2022.
[9] T. B. T. Đặng and T. T. Hoàng, "Kết quả chăm sóc toàn diện trẻ sinh non, nhẹ cân bằng phương pháp Kangaroo tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City," (in vi), Tạp chí khoa học Điều dưỡng, vol. 3, no. 5, pp. 208-215, 2020. DOI: 10.54436/jns
[10] W. A. Engle and M. A. Kominiarek, "Late preterm infants, early term infants, and timing of elective deliveries," (in eng), Clinics in perinatology, vol. 35, no. 2, pp. 325-341, 2018. https://doi.org/10.1016/j.clp.2008.03.003
[11] A. Conde-Agudelo and R. Romero, "Vaginal progesterone to prevent preterm birth in pregnant women with a sonographic short cervix: clinical and public health implications," (in eng), American journal of obstetrics gynecology, vol. 214, no. 2, pp. 235-242, 2016. https://doi.org/10.1016/j.ajog.2015.09.102
[12] K. Y. W. Lok et al., "Increase in weight in low birth weight and very low birth weight infants fed fortified breast milk versus formula milk: a retrospective cohort study," (in eng), Nutrients, vol. 9, no. 5, p. 520, 2017. doi: https://doi.org/10.3390/nu9050520
[13] J. J. Volpe, "Brain injury in premature infants: a complex amalgam of destructive and developmental disturbances," (in eng), The Lancet Neurology, vol. 8, no. 1, pp. 110-124, 2019, doi: https://doi.org/10.1016/S1474-4422(08)70294-1.