ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM CAN THIỆP CẦU NỐI ĐỘNG TĨNH MẠCH TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ

Đỗ Ngọc Anh1, Trần Minh Thoại2
1 Khoa Dược lý - Dược lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội
2 Khoa Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Hữu Nghị

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, tổn thương và đánh giá kết quả sớm (sau 1 tháng) của can thiệp nội mạch điều trị hẹp tắc cầu nối động tĩnh mạch ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ. 


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 47 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu có hẹp tắc cầu nối (> 50%) được can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Hữu Nghị từ tháng 3/2023 đến tháng 12/2024. 


Kết quả: Bệnh nhân có tuổi trung bình là 71,9 ± 10,9, nam giới chiếm 87,2%. Tăng huyết áp (76,6%) và đái tháo đường (53,2%) là bệnh lý đi kèm phổ biến. Cầu nối tự thân động mạch quay-tĩnh mạch đầu chiếm 76,6%. Vị trí hẹp hay gặp nhất là miệng nối-tĩnh mạch bản lề (51,1%), mức độ hẹp trung bình 81,7 ± 10,3%, chiều dài tổn thương 42 ± 14 mm. Lưu lượng cầu nối trung bình trước can thiệp là 350,7 ± 220,3 ml/phút. Tỷ lệ thành công kỹ thuật và lâm sàng đạt 100%. Lưu lượng cầu nối sau can thiệp cải thiện đáng kể (654,7 ± 320,6 ml/phút, p < 0,001). Biến chứng nhẹ gồm chảy máu vị trí chọc mạch (6,4%) và co thắt tĩnh mạch (8,5%). Tỷ lệ tái hẹp sau 1 tháng là 4,3%. 


Kết luận: Can thiệp nội mạch là phương pháp an toàn, hiệu quả cao trong điều trị hẹp tắc cầu nối động tĩnh mạch, đặc biệt trên đối tượng bệnh nhân cao tuổi, giúp phục hồi và duy trì chức năng lọc máu.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Đinh Huỳnh Linh và cộng sự. Đánh giá kết quả sớm can thiệp nội mạch điều trị hẹp/tắc thông động tĩnh mạch ở Viện Tim mạch Việt Nam. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 2019, 87: 21-27.
[2] Brahmbhatt A, Remuzzi A, Franzoni M, Misra S. The molecular mechanisms of hemodialysis vascular access failure. Kidney Int, 2016, 89 (2): 303-316. doi: 10.1016/j.kint.2015.12.019.
[3] KDOQI, National Kidney Foundation. KDOQI clinical practice guidelines and clinical practice recommendations for anemia in chronic kidney disease. Am J Kidney Dis, 2006, 47 (5 Suppl 3): S11-S145. doi: 10.1053/j.ajkd.2006.03.010.
[4] Viecelli A.K et al. Report of the Standardized Outcomes in Nephrology-Hemodialysis (SONG-HD) consensus workshop on establishing a core outcome measure for hemodialysis vascular access. Am J Kidney Dis, 2018, 71 (5): 690-700. doi: 10.1053/j.ajkd.2017.12.003.
[5] Schwab S.J, Oliver M.J, Suhocki P, McCann R. Hemodialysis arteriovenous access: detection of stenosis and response to treatment by vascular access blood flow. Kidney Int.,2001, 59 (1): 358-362. doi: 10.1046/j.1523-1755.2001.00498.x.
[6] Lotfi U, Mostafa H. Evaluation of the endovascular salvage outcome for dysfunctional arteriovenous fistula for hemodialysis according to the site of the lesion. J Cardiol & Cardiovasc Ther, 2017, 2 (5): 1-8. doi: 10.19080/JOCCT.2017.02.555596
[7] Beathard G.A. Percutaneous transvenous angioplasty in the treatment of vascular access stenosis. Kidney Int, 1992, 42 (6): 1390-1397. doi: 10.1038/ki.1992.431.
[8] Aktas A, Bozkurt A, Aktas H et al. Percutaneous transluminal balloon angioplasty in stenosis of native hemodialysis arteriovenous fistulas: technical success and analysis of factors affecting postprocedural fistula patency. Diagn Interv Radiol, 2015, 21 (2): 160-166. doi: 10.5152/dir.2014.14348.