THỰC TRẠNG RỐI LOẠN GIẤC NGỦ BẰNG THANG SLEEP-50 Ở NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC HIỆN TẠI GIAI ĐOẠN TRẦM CẢM ĐIỀU TRỊ TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN, BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm dựa trên thang điểm Sleep-50.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 123 người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ICD-10, từ tháng 1 năm 2025 đến tháng 10 năm 2025.
Kết quả: Theo thang Sleep-50, có 80,5% người bệnh có rối loạn giấc ngủ. Các rối loạn phổ biến: mất ngủ (84,8%), ngủ rũ/buồn ngủ quá mức (24,2%), ác mộng (20,2%), hội chứng chân không yên/cử động bất thường (9,1%), ngưng thở khi ngủ (7,1%), rối loạn nhịp thức–ngủ (4,0%). Trong mất ngủ, khó vào giấc 82,1%, khó duy trì giấc 66,7%, thức sớm 29,8%. Thời gian ngủ trung bình 5,9 ± 1,7 giờ, thời gian nằm giường 8,7 ± 1,5 giờ; 75,8% có hiệu quả giấc ngủ từ kém đến rất kém. Một số yếu tố liên quan: tuổi ≥ 40 (OR = 3,04; 95% CI: 1,14–8,09; p = 0,023), số lần nhập viện ≥ 3 lần (OR = 12,63; 95% CI: 4,18–38,10; p < 0,001).
Kết luận: Rối loạn giấc ngủ rất phổ biến ở người bệnh RLCXLC giai đoạn trầm cảm, chủ yếu là mất ngủ với hiệu quả giấc ngủ thấp. Tuổi cao và mức độ nặng của bệnh (nhập viện nhiều lần) là các yếu tố liên quan chính.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm, Sleep 50, mất ngủ, rối loạn giấc ngủ
Tài liệu tham khảo
[2] Robillard R, Naismith SL, Hickie IB. Recent advances in sleep-wake cycle and biological rhythms in bipolar disorder. Curr Psychiatry Rep 2013; 15: 402.
[3] Spoormaker VI, Verbeek I, van den Bout J, et al. Initial Validation of the SLEEP-50 Questionnaire. Behav Sleep Med 2005; 3: 227–246.
[4] Jackson A, Cavanagh J, Scott J. A systematic review of manic and depressive prodromes. J Affect Disord 2003; 74: 209–217.
[5] Yassin A, Al-Mistarehi A-H, Beni Yonis O, et al. Prevalence of sleep disorders among medical students and their association with poor academic performance: A cross-sectional study. Ann Med Surg 2020; 58: 124–129.
[6] Ohayon MM, Carskadon MA, Guilleminault C, et al. Meta-analysis of quantitative sleep parameters from childhood to old age in healthy individuals: developing normative sleep values across the human lifespan. Sleep 2004; 27: 1255–1273.
[7] Cribbet MR, Carlisle M, Cawthon RM, et al. Cellular aging and restorative processes: subjective sleep quality and duration moderate the association between age and telomere length in a sample of middle-aged and older adults. Sleep 2014; 37: 65–70.
[8] Harvey AG, Schmidt DA, Scarnà A, et al. Sleep-related functioning in euthymic patients with bipolar disorder, patients with insomnia, and subjects without sleep problems. Am J Psychiatry 2005; 162: 50–57.