NỒNG ĐỘ D-DIMER CỦA NGƯỜI BỆNH TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG

Phan Thị Thanh Vân1, Phan Đức Hinh2, Lê Thị Ngọc Ánh3
1 Bệnh viện Chuyên khoa Ngoại Thần kinh Quốc tế
2 Trường Đại học Trà Vinh
3 Khoa Y, Trường Đại học Văn Lang

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định nồng độ D-dimer của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật thay khớp háng và các yếu tố liên quan với nồng độ D-dimer trước phẫu thuật.


Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 74 bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng tại Khoa Chi dưới, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9/2017-9/2018. Bệnh nhân được lấy máu để xét nghiệm D-dimer ở các thời điểm trước phẫu thuật 24 giờ và sau phẫu thuật 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ. D-dimer được định lượng nồng độ trên máy đông máu tự động Sta-Rmax.


Kết quả: Nồng độ trung bình D-dimer trước phẫu thuật 24 giờ của bệnh nhân thay khớp háng là 1,40 ± 1,44 µg/mL, sau phẫu thuật 24 giờ là 2,20 ± 1,44 µg/mL, 48 giờ là 1,50 ± 0,79 µg/mL, 72 giờ là 1,77 ± 0,81 µg/mL. Có mối liên quan giữa nhóm tuổi, nghề nghiệp, BMI, uống rượu/bia, tăng huyết áp, nằm bất động trước phẫu thuật và nguyên nhân thay khớp háng với nồng độ D-dimer trước phẫu thuật. Trong đó, bệnh nhân tuổi từ 60 trở lên có nồng độ D-dimer > 0,5 µg/mL cao hơn những bệnh nhân dưới 60 tuổi (p = 0,003). Bệnh nhân bị tăng huyết áp có nồng độ D-dimer > 0,5 µg/mL cao hơn những bệnh nhân không bị tăng huyết áp (p = 0,004). Bệnh nhân nằm bất động trước phẫu thuật có nồng độ D-dimer cao hơn những bệnh nhân không phải nằm bất động (p = 0,01). Bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng do bị chấn thương có nồng độ D-dimer trước phẫu thuật cao hơn so với bệnh nhân thay khớp háng do thoái hóa (p = 0,003).


Kết luận: Hầu hết bệnh nhân thay khớp háng trước và sau phẫu thuật đều có nồng độ D-dimer cao (> 0,5 µg/mL). Do đó, cần sử dụng xét nghiệm D-dimer để tầm soát huyết khối tĩnh mạch nhằm sớm chẩn đoán và dự phòng kịp thời nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân thay khớp háng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Phan Văn Nguyên. Khảo sát tình hình huyết khối tĩnh mạch sâu trên bệnh nhân sau phẫu thuật gãy xương lớn chi dưới. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 1-94.
[2] Nguyễn Văn Trí, Nguyễn Vĩnh Thống và cộng sự. Tỉ lệ hiện mắc huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) ở chi dưới trên bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2016, phụ bản tập 20 (số 1): 263-270.
[3] Stein P.D, Hull R.D et al. Of the various D-dimer assays, negative ELISA results are most useful for excluding a diagnosis of deep venous thrombosis or pulmonary embolism. Ann Intern Med, 2004, 140, pp. 589-602.
[4] Wells P.S, Anderson D.R et al. Excluding pulmonary embolism at the bedside without diagnostic imaging: management of patients with suspected pulmonary embolism presenting to the emergency department by using a simple clinical model and D-Dimer. Ann Intern Med, 2001, 135 (2): 98-107. doi: 10.7326/0003-4819-135-2-200107170-00010.
[5] Rafee A, Herlikar D et al. D-Dimer in the diagnosis of deep vein thrombosis following total hip and knee replacement: a prospective study. Ann R Coll Surg Engl, 2008, 90 (2): 123-126. doi: 10.1308/003588408X261627
[6] Leizorovicz A. Epidemiology of venous thromboembolism in Asian patients undergoing major othopedic surgery without thromboprophylaxis. J Thromb Haemost, 2005, 3 (1): 28-34. doi: 10.1111/j.1538-7836.2004.01094.x.
[7] Geerts W.H et al. Prevention of venous thromboembolism: American College of Chest Physicians Evidence-based clinical practice guidelines (8th edition). Chest, 2008, 133 (6 Suppl): 381S-453S. doi: 10.1378/chest.08-0656.
[8] Dowling N.F, Austin H et al. The epidemiology of venous thromboembolism in Caucasians and African-Americans: the GATE study. Journal of Thrombosis and Haemostasis, 2003, 1 (1): 80-87. doi: 10.1046/j.1538-7836.2003.00031.x.