NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ SAI KHỚP CẮN VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI THÓI QUEN XẤU VỀ RĂNG MIỆNG Ở TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 12 - 18 TUỔI TẠI ĐÀ NẴNG

Huỳnh Thị Mỹ Tâm1, Võ Thị Ánh Nguyệt1, Nguyễn Hoài Ngọc1, Trần Lê Quỳnh Phương1, Bạch Thái An1, Võ Thị Hương Phú1
1 Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng - Khu đô thị Đại học Đà Nẵng, phường Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ, mức độ sai khớp cắn (SKC) ở trẻ khuyết tật trí tuệ 12 - 18 tuổi tại thành phố Đà Nẵng và mối liên quan với một số thói quen xấu về răng miệng (đẩy lưỡi, thở miệng, mút ngón tay).


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 82 trẻ từ 12-18 tuổi thuộc ba cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng (từ tháng 04 – tháng 06/2025). Mức độ SKC được đánh giá bằng chỉ số Thẩm mỹ Nha khoa (DAI). Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được áp dụng để xác định mối liên quan giữa mức độ sai khớp cắn và thói quen xấu về răng miệng.


Kết quả: Chỉ số DAI trung bình trong nghiên cứu là: 34,44 ± 13,32 (trung vị: 33, tứ phân vị: 26,25–39,75). Tỷ lệ trẻ có ít nhất một thói quen xấu về răng miệng là 70,7% và đẩy lưỡi là thói quen phổ biến nhất (48,8%). Tỷ lệ trẻ có sai khớp cắn cần điều trị chỉnh nha (DAI ≥ 26) là 76,8%, trong đó mức độ SKC rất trầm trọng hoặc khiếm khuyết khớp cắn (DAI ≥ 36) chiếm tỷ lệ cao nhất (30,5%, KTC 95%: 21,1–41,8). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thói quen đẩy lưỡi và xu hướng gia tăng điểm DAI trung bình (B=6,97; KTC 95%: 1,17 – 12,77; p=0,019). Không tìm thấy mối liên hệ giữa thói quen thở miệng và mút ngón tay với điểm DAI trung bình.


Kết luận: Tỷ lệ sai khớp cắn ở trẻ khuyết tật trí tuệ 12 - 18 tuổi cao. Trong đó, mức độ sai khớp cắn trầm trọng chiếm tỷ lệ cao. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thói quen đẩy lưỡi và xu hướng gia tăng mức độ sai khớp cắn. 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Singh VP, Sharma A. Epidemiology of malocclusion and assessment of orthodontic treatment need for Nepalese children. Int Sch Res Notices. 2014;2014:768357.
[2] Leck R, Paul N, Rolland S, Birnie D. The consequences of living with a severe malocclusion: A review of the literature. J Orthod. 2022;49(2):228-39.
[3] Wang Z, Feng J, Wang Q, Yang Y, Xiao J. Analysis of the correlation between malocclusion, bad oral habits, and the caries rate in adolescents. Transl Pediatr. 2021;10(12):3291–300.
[4] Cabrita JP, Bizarra MF, Graça SR. Prevalence of malocclusion in individuals with and without intellectual disability: A comparative study. Spec Care Dentist. 2017;37(4):181–6.
[5] World Health Organization. Oral health surveys: basic methods. 4th ed. Geneva: World Health Organization; 1997.
[6] Marwah N. Textbook of Pediatric Dentistry. 4th ed. New Delhi: Jaypee Brothers Medical Publishers; 2019.
[7] Vellappally S, Gardens SJ, Al Kheraif AA, Krishna M, Babu S, Hashem M, et al. The prevalence of malocclusion and its association with dental caries among 12-18-year-old disabled adolescents. BMC Oral Health. 2014;14:123.
[8] Eigbobo JO, Onyeaso CO. Oral Habits in a Selected Population of Children and Adolescents with Special Health Care Needs. Int J Sci Res. 2017;6(7):1623–8.
[9] McCracken A. Drool control and tongue thrust therapy for the mentally retarded. Am J Occup Ther. 1978;32(2):79–85.
[10] Nayak PP, Prasad K, Bhat YM. Orthodontic treatment need among special health care needs school children in Dharwad, India: A comparative study. J Orthod Sci. 2015;4(2):47–51.