THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỂ LỰC CỦA SINH VIÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ HÀ NỘI NĂM 2024

Nguyễn Công Minh1, Nguyễn Xuân Bình Minh2, Trần Thị Hồng Vân1, Phạm Thị Quân2
1 Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên
2 Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng hoạt động thể lực và một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực của sinh viên tại một số trường đại học ở Hà Nội và Thái Nguyên năm 2024.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 1297 sinh viên từ 5 trường đại học ở tỉnh Thái Nguyên và thành phố Hà Nội bằng bộ công cụ IPAQ-LF.


Kết quả: Tỷ lệ sinh viên đạt mức hoạt động thể lực theo khuyến nghị của WHO là 86,7%, trong đó 74,2% ở mức hoạt động thể lực cao, 12,5% ở mức hoạt động thể lực trung bình và 13,3% ở mức hoạt động thể lực thấp. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ hoạt động thể lực bao gồm: giới tính, chuyên nghành học, khu vực trường, thời gian ngồi/ngày, thời gian ngủ/ngày.


Kết luận: Phần lớn sinh viên đạt mức hoạt động thể lực theo khuyến nghị của WHO, tuy nhiên mức độ này chịu ảnh hưởng bởi giới tính, chuyên ngành học, địa điểm trường và thói quen sinh hoạt. Cần chú trọng tăng cường các chương trình khuyến khích vận động, giảm thời gian ngồi kéo dài, và hỗ trợ sinh viên duy trì thói quen thể dục thường xuyên.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Darren E.R Warburton et al. Health benefits of physical activity: the evidence. CMAJ, 2006, 174 (6): 801-809. doi: 10.1503/cmaj.051351.
[2] Huỳnh Hồ Phúc Tường, Trần Minh Thư và cộng sự. Thực trạng, yếu tố liên quan và các rào cản trong hoạt động thể lực của sinh viên Khoa Y, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2024, 7 (5): 104-114. doi: 10.54436/jns.2024.05.838.
[3] Trần Minh Hiển. Thực trạng hoạt động thể lực của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội năm 2020 và các yếu tố liên quan. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y học dự phòng, Trường Đại học Y Hà Nội, 2020.
[4] Hồ Mai Hương. Thực trạng hoạt động thể lực ở sinh viên hệ bác sĩ năm cuối Trường Đại học Y Hà Nội năm 2022-2023 và một số yếu tố liên quan. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y học dự phòng, Trường Đại học Y Hà Nội, 2023.
[5] Booth M.L. International physical activity questionaire - long last 7 days, 2000.
[6] IPAQ. Guidelines for data processing and analysis of the international physical activity questionnaire (IPAQ). Short and Long Forms, 2005.
[7] Nguyễn Thị Huyền Trang. Thực trạng hoạt động thể lực của sinh viên ngành bác sĩ y học dự phòng Trường Đại học Y Hà Nội năm 2024 và một số yếu tố liên quan. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ y học dự phòng, Trường Đại học Y Hà Nội, 2024.
[8] Vũ Nam Phương, Trương Hoàng Tố Anh, Trương Hoàng Tuấn Anh. Mức độ hoạt động thể lực ở sinh viên y năm thứ 6 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2022. Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch, 2024, 3 (3): 47-53. doi: 10.59715/pntjmp.3.3.5.
[9] Pengpid S, Peltzer K, Kassean H.K et al. Physical inactivity and associated factors among university students in 23 low-, middle- and high-income countries. International Journal of Public Health, 2015, 60 (5): 539-549. doi: 10.1007/s00038-015-0680-0.
[10] Minh Dieu Ha, Chanh Thuc Dao. Exploratory study on motivational factors in recreational sports: A gender and region-based analysis of students at Vietnam National University, Ho Chi Minh city. The Open Sport Sciences Journal, 2025, 18. doi: 10.2174/011875399X354776241218053136.
[11] Owen N, Healy G.N, Matthews C.E, Dunstan D.W. Too much sitting: The population health science of sedentary behavior. Exercise and Sport Sciences Reviews, 2010, 38 (3): 105-113. doi: 10.1097/JES.0b013e3181e373a2.