KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH PHÒNG NHỄM KHUẨN Ở NGƯỜI BỆNH LỌC MÀNG BỤNG LIÊN TỤC TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2025

Đỗ Thị Hiệp1, Nghiêm Trung Dũng1, Bế Hồng Thu2, Nguyễn Thị Thảo1
1 Trung tâm Thận - Tiết niệu và Lọc máu, Bệnh viện Bạch Mai
2 Trường Đại học Thăng Long

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thực hành phòng nhiễm khuẩn ở người bệnh lọc màng bụng liên tục tại Trung tâm Thận tiết niệu và Lọc máu, Bệnh viện Bạch Mai năm 2025.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 121 người bệnh lọc màng bụng liên tục.


Kết quả: 74,4% người bệnh có điểm kiến thức ở mức cao, nhóm điểm trung bình chiếm 19,8%, nhóm kiến thức thấp chiếm tỷ lệ thấp nhất (5,8%). Nhóm câu hỏi về viêm phúc mạc có tỷ lệ sai trung bình thấp nhất (5,5%). Nhóm câu hỏi liên quan đến nhiễm khuẩn chân catheter có tỷ lệ sai trung bình 9,1%. Kết quả phân tích cho thấy hạn chế lớn nhất của người bệnh nằm ở nhóm kiến thức liên quan đến xử trí các sự cố gặp phải tại nhà, với tỷ lệ trả lời sai trung bình cao nhất (9,5%). Về thực hành, phần lớn người bệnh đạt yêu cầu theo thang điểm đánh giá (76,9%). Tuy nhiên, vẫn còn 23,1% người bệnh chưa đạt, trong đó tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng và đủ ở hầu hết các bước đều ở mức độ khá cao (trên 50%). Một số bước liên quan đến vệ sinh tay và sát khuẩn có tỷ lệ làm đúng chưa cao, đặc biệt là sát khuẩn tay nhanh lần 2 và lần 3. Ngoài ra, các bước như đếm thời gian, quan sát dịch xả và ghi chép sau cân túi dịch vẫn còn tỷ lệ chưa thực hiện đầy đủ.


Kết luận: Phần lớn người bệnh có kiến thức phòng nhiễm khuẩn ở mức cao, phản ánh hiệu quả bước đầu của công tác tư vấn, hướng dẫn và giáo dục sức khỏe tại cơ sở điều trị. Về thực hành phòng nhiễm khuẩn, đa số người bệnh thực hiện đạt yêu cầu các bước kỹ thuật trong quy trình lọc màng bụng liên tục. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, do đó cần tăng cường truyền thông, giáo dục sức khỏe và đào tạo thực hành nhằm cải thiện kiến thức, thực hành và giảm biến chứng nhiễm khuẩn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Đinh Thị Kim Dung. Cập nhật thông tin về Liệu pháp Keto Acid trong điều trị bảo tồn chức năng thận và dinh dưỡng đạm tĩnh mạch cho người bệnh mắc bệnh thận mạn. Hội Thận học Hà Nội, 2012, tr. 3.
[2] Nguyễn Bách, Lê Chí Công. Đánh giá kết quả thực hiện chương trình “Khuyến khích chọn phương pháp lọc màng bụng tại nhà” tại Bệnh viện Thống Nhất. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 527 (1): 203-206. doi: 10.51298/vmj.v527i1.5665
[3] Vương Tuyết Mai, Phạm Thanh Tuyền, Đỗ Gia Tuyển. Đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng ở người bệnh lọc màng bụng liên tục ngoại trú. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2015, 95 (5), tr. 74-82.
[4] Trần Văn Chất. Bệnh thận. Nhà xuất bản Y học, Hà Nôi, 2015, tr. 237-253.
[5] Bộ Y tế. Quy trình rửa tay thường quy (ban hành kèm theo Công văn số 7517/BYT-ĐTr ngày 21 tháng 10 năm 2007.
[6] Bernardini J. Training and retraining: Impact on peritonitis. Peritoneal Dialysis International, 2009, 30 (4): 434-436. doi: 10.3747/pdi.2009.00244
[7] Chow K.M, Szeto C.C, Law M.C. Influence of peritoneal dialysis training nurses’ experience on peritonitis rates. Clin J Am Soc Nephrol, 2007, 2 (4): 647-652.
[8] Mujais S, Story K. Peritoneal dialysis in the US: evaluation of outcomes in contemporary cohorts. Kidney International Suppl, 2006, 103: S21-6. doi: 10.1038/sj.ki.5001912.
[9] Barone R.J, Campora M.I, Gimenez N.S. The importance of the patient’s training in chronic peritoneal dialysis and peritonitis. Adv Perit Dial, 2011, 27, 97-100.
[10] Bernardini J. Training and retraining: impact on peritonitis. Perit Dial Int, 2010, 30 (4): 434-6. doi: 10.3747/pdi.2009.00244.