KẾT CỤC SẢN KHOA CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP THAI CHẬM PHÁT TRIỂN TRONG TỬ CUNG TỪ 37 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Phan Thị Huyền Thương1,2, Nguyễn Lê Minh3
1 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
2 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
3 Trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu nghiên cứu: Nhận xét kết cục sản khoa ở các trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung từ 37 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca tiến cứu trên 139 sản phụ được chẩn đoán thai chậm phát triển trong tử cung từ 37 tuần, theo dõi và kết thúc thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 10 năm 2025.


Kết quả: Tuổi thai trung bình lúc chấm dứt thai kỳ là 38,1 ± 0,7 tuần. Tỷ lệ mổ lấy thai chiếm 77%, đẻ thường 23%. Chỉ định mổ lấy thai do mổ cũ chiếm 19,4%; thai suy chiếm 9,4%. Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ 5,8%, trong đó thành công 75%, thất bại 25%. Thời gian nằm viện trung bình của sản phụ là 3,33 ngày. Tỷ lệ nằm viện >3 ngày với đẻ mổ là 45,8%, đẻ thường là 18,8%.


Kết luận: Cân nhắc lợi ích theo dõi thêm với nguy cơ thai chết lưu trong tử cung để lựa chọn chính xác thời điểm chấm dứt thai kì. Đối với thai chậm phát triển trong tử cung đủ tháng, việc kéo dài thai kỳ sau tuần 38 có thể không còn mang lại lợi ích tăng trưởng mà còn làm tăng nguy cơ thai nhi rơi vào mức độ CPTTTC nghiêm trọng hơn (bách phân vị <3rd). Các trường hợp sinh mổ thì thời gian nằm viện là dài  hơn sinh thường.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Duy Ánh và các cộng sự. Giáo trình Sản phụ khoa: dành cho học viên Sau đại học (Tập 1). Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022.
2. Sharma, Prachi và Mehta, Amiya U. Study of fetomaternal implications in intrauterine growth restriction pregnancies. International Journal of Reproduction, Contraception, Obstetrics Gynecology. 2024;13(4), tr. 895-899, DOI: https://doi.org/10.18203/2320-1770.ijrcog20240783.
3. Hadlock Frank P và các cộng sự. Estimation of fetal weight with the use of head, body, and femur measurements—a prospective study. American journal of obstetrics gynecology.1985; 151(3), tr. 333-337, DOI: 10.1016/0002-9378(85)90298-4.
4. Thạch Thảo Đan Thanh, Bùi Chí Thương. Kết cục thai chậm tăng trưởng trong tử cung có chỉ định chấm dứt thai kỳ tại Bệnh viện Từ Dũ. 2017; Y học thành phố Hồ Chí Minh, tr. 21(1), 97-101, DOI: 10.56535/jmpm.v49i9.911.
5. Đinh Thanh Hà và các cộng sự. Kết cục thai chậm tăng trưởng trong tử cung từ 34 tuần tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang. 2024; Tạp chí Y Dược học Quân sự. 49(9), tr. 153-162, DOI: 10.56535/jmpm.v49i9.911.
6. Byun Young Ji và các cộng sự. Umbilical artery Doppler study as a predictive marker of perinatal outcome in preterm small for gestational age infants. Onsei medical journal. 2009; 50(1), tr. 39, DOI: 10.3349/ymj.2009.50.1.39.
7. Trương Mỹ Ngọc và các cộng sự. Kết cục thai kỳ các trường hợp thai nhỏ so với tuổi thai. 2020; Tạp chí Phụ sản. 18(1), tr. 32-37, DOI: 10.46755/vjog.2020.1.771.
8. Boers, KE và các cộng sự. Induction versus expectant monitoring for intrauterine growth restriction at term: randomised equivalence trial (DIGITAT). BMJ. 2010; 341, DOI: 10.1136/bmj.c7087.
9. Jozwiak, Marta và các cộng sự. Mechanical methods for induction of labour. Cochrane Database of Systematic Reviews; 2012, DOI: 10.1002/14651858.CD001233.pub2.