GIÁ TRỊ CỦA SLIDING SIGN TRONG TIÊN LƯỢNG DÍNH TỬ CUNG-THÀNH BỤNG TRÊN SẢN PHỤ CÓ SẸO MỔ LẤY THAI

Nguyễn Thị Trinh1, Nguyễn Mạnh Trí2, Trương Quang Vinh2, Đinh Huy Cường2
1 Bệnh viện Đại học Phenikaa
2 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét giá trị của Sliding sign trong nhận định dính tử cung-thành bụng trên sản phụ có sẹo mổ lấy thai.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang  trên 130 sản phụ có tiền sử mổ lấy thai, được phẫu thuật lấy thai chủ động tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ tháng 9-11 năm 2025. Tất cả sản phụ được siêu âm đánh giá Sliding sign trước mổ và đối chiếu với kết quả được ghi nhận trực tiếp trong phẫu thuật.


Kết quả: Tỷ lệ dính tử cung-thành bụng là 54,6%, trong đó dính mức độ vừa và nặng chiếm 34,6%. Sliding sign âm tính tăng rõ rệt ở nhóm dính độ 2-3 (75,6%), với OR = 40,7 (95% CI: 13,9-119,0; p < 0,001). Giá trị chẩn đoán của Sliding sign gồm: độ nhạy 75,6%; độ đặc hiệu 92,9%; giá trị tiên đoán dương 85,0%; giá trị tiên đoán âm 87,8%. Thời gian lấy thai và tổng thời gian phẫu thuật đều kéo dài đáng kể ở nhóm Sliding sign âm tính (p < 0,001). Đặc điểm sẹo lõm có liên quan mạnh với dính mức độ cao (p = 0,001).


Kết luận: Sliding sign là dấu hiệu siêu âm đơn giản nhưng có độ tin cậy cao trong tiên lượng dính tử cung-thành bụng ở sản phụ có sẹo mổ lấy thai. Việc áp dụng thường quy dấu hiệu này có thể hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật, giảm nguy cơ tai biến và nâng cao an toàn cho người bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] World Health Organization. WHO Statement on Caesarean Section Rates, 2021.
[2] Vương Tiến Hòa. Nghiên cứu chỉ định phẫu thuật lấy thai ở người đẻ con so tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2002. Nghiên cứu Y học, 2004, 5: 79-84.
[3] Ninh Văn Minh. Tình hình mổ lấy thai tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình năm 2012. Tạp chí Y học thực hành, 2013, số 846.
[4] Lê Hoài Chương và cộng sự. Nhận xét thực trạng mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017. Tạp chí Phụ Sản, 2018, 16 (1): 92-96.
[5] Trần Thị Len và cộng sự. Đánh giá kết quả mổ lấy thai trên sản phụ có tiền sử mổ lấy thai từ 2 lần trở lên tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình năm 2024. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (4): 45-49.
[6] Bates G.W, Shomento S. Adhesion prevention in patients with multiple cesarean deliveries. Am J Obstet Gynecol, 2011, No. 205: 19-24.
[7] Awonuga A.O et al. Postoperative adhesion development following cesarean and open intra-abdominal gynecological operations: a review. Reproductive Sciences, 2011, 18, No. 10: 1166-1185.
[8] Duffy D.M et al. Adhesion controversies: pelvic pain as a cause of adhesions, crystalloids in preventing them. J Reprod Med 1996, 1996, vol. 41: 19-26.
[9] Galinos Barmparas et al. The incidence and risk factors of post-laparotomy adhesive small bowel obstruction. Journal of Gastrointestinal Surgery, 2010, 14, No. 10: 1619-1628.
[10] Togas Tulandi et al. Clinical relevance of intra-abdominal adhesions in cesarean delivery. Gynecological Surgery, 2011, vol. 8: 399-403.
[11] Togas Tulandi. Prospective study of intraabdominal adhesions among women of different races with or without keloids. American Journal of Obstetrics and Gynecology, 2011, vol. 204, No. 2: 123.
[12] Demet Kokanalı. Are the cesarean section skin scar characteristics associated with intraabdominal adhesions located at surgical and non-surgical sites. Journal of Gynecology Obstetrics and Human Reproduction, 2019, vol. 48, No. 10: 839-843.
[13] Baron J et al. Sliding sign in third-trimester sonographic evaluation of intra-abdominal adhesions in women undergoing repeat Cesarean section: a novel technique. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology, 2018, vol. 52, No. 5: 662-665.
[14] Charernjiratragul K et al. Preoperative sonographic sliding sign for prediction of intra-abdominal adhesions before repeat cesarean delivery. International Journal of Gynecology & Obstetrics, 2022, vol. 6, No. 1: 250-254.