MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ DINH DƯỠNG TIÊN LƯỢNG, TỶ LỆ HEMOGLOBIN/ĐỘ RỘNG PHÂN BỐ HỒNG CẦU VÀ NGUY CƠ NHẬP VIỆN Ở BỆNH NHÂN LỌC MÁU CHU KỲ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa chỉ số dinh dưỡng tiên lượng, tỷ lệ hemoglobin/độ rộng phân bố hồng cầu với nguy cơ nhập viện và xây dựng mô hình dự đoán khả năng nhập viện ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 157 bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Nhập viện ít nhất 1 lần trong thời gian nghiên cứu là biến kết cục chính. Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng độc lập. Độ phù hợp của mô hình được đánh giá bằng kiểm định Hosmer-Lemeshow và biểu đồ rừng.
Kết quả: Tuổi trung bình 53,4 ± 14,2 năm, nam chiếm 53,5%. Tỷ lệ nhập viện là 54,7%, chủ yếu do bệnh tim mạch (56,4%). Nhóm nhập viện có chỉ số dinh dưỡng tiên lượng thấp hơn đáng kể so với nhóm không nhập viện (p = 0,014). Trong mô hình đa biến, chỉ số dinh dưỡng tiên lượng là yếu tố tiên lượng độc lập liên quan đến nguy cơ nhập viện (OR = 0,93; KTC 95%: 0,87-1,00; p = 0,05), trong khi tỷ lệ hemoglobin/độ rộng phân bố hồng cầu và các yếu tố khác không còn ý nghĩa thống kê. Mô hình cho thấy độ phù hợp.
Kết luận: Chỉ số dinh dưỡng tiên lượng là chỉ số đơn giản, chi phí thấp, có giá trị dự đoán độc lập nguy cơ nhập viện ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
PNI, Hb/RDW, nhập viện, lọc máu chu kỳ, hồi quy logistic đa biến, biểu đồ rừng
Tài liệu tham khảo
[2] Yin C et al. Comparison of hospitalization cause and risk factors between patients undergoing hemodialysis and peritoneal dialysis. Medicine (Baltimore), 2022, 101 (48): e31186. doi: 10.1097/MD.0000000000031186.
[3] Xu F et al. Combined predictive value of prognostic nutritional index and neutrophil to lymphocyte ratio for all-cause mortality risk in maintenance hemodialysis patients: a cohort study followed for 5 years. BMC Nephrology, 2025, 26 (1): 319. doi: 10.1186/s12882-025-04273-2.
[4] Krongsut S et al. Unlocking the potential of HB/RDW ratio as a simple marker for predicting mortality in acute ischemic stroke patients after thrombolysis. Journal of Stroke and Cerebrovascular Diseases, 2024, 33 (9): 107874. doi: 10.1016/j.jstrokecerebrovasdis.2024.107874.
[5] Tanaka M et al. Hospitalization for patients on combination therapy with peritoneal dialysis and hemodialysis compared with hemodialysis. Kidney Int Rep, 2020, 5 (4): 468-474. doi: 10.1016/j.ekir.2020.01.004.
[6] Nguyễn Văn Huynh và cộng sự. Nghiên cứu tình hình suy dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2022-2023. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2024, (76): 48-53. doi: 10.58490/ctump.2024i76.2453
[7] Lê Thanh Toàn và cộng sự. Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2023. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 552 (1): 184-189. doi: 10.51298/vmj.v552i1.14890
[8] Châu Thị Thảo Nguyên và cộng sự. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và khẩu phần ăn của bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thống Nhất. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 515 (1): 342-346. doi: 10.51298/vmj.v515i1.2740
[9] Andreew-Gamza M et al. Nutritional status of hemodialysis patients assessed using nPCR and Onodera’s prognostic nutritional index. Medical Science Pulse, 2025, 19 (2): 43-51. doi: 10.5604/01.3001.0055.136