TỶ LỆ NHIỄM LIÊN CẦU KHUẨN NHÓM B VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC THỦ ĐỨC: NGHIÊN CỨU CẮT NGANG MÔ TẢ

Lê Thị Thu Trang1, Huỳnh Thanh Liêm2, Cao Tấn Phước1, Đỗ Quang Sang1, Huỳnh Ngọc Phước1, Lê Hoàng Mai Trâm1, Nguyễn Quốc Tuấn3
1 Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức
2 Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ
3 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở thai phụ là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm trùng sơ sinh sớm, viêm màng ối, nhiễm khuẩn huyết và tăng tỷ lệ tử vong chu sinh. Trên thế giới, tỷ lệ mang liên cầu khuẩn nhóm B dao động từ 10–30% tùy khu vực, trong khi tại Việt Nam các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có xu hướng tăng, nhưng sự khác biệt giữa vùng dân cư, tuyến bệnh viện và mô hình chăm sóc thai kỳ vẫn chưa được mô tả đầy đủ. Điều này đặt ra nhu cầu đánh giá dịch tễ học liên cầu khuẩn nhóm B trong từng bối cảnh địa phương nhằm tối ưu hóa chiến lược tầm soát và dự phòng. Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức là cơ sở tuyến cuối khu vực phía Đông Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp nhận số lượng lớn thai phụ từ cả khu vực thành thị và nông thôn, với đặc điểm xã hội học đa dạng. Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu hệ thống nào xác định tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B và các yếu tố liên quan tại bệnh viện này. Việc thiếu dữ liệu địa phương khiến khó xây dựng chiến lược tầm soát phù hợp, khó dự báo nhóm nguy cơ cao và hạn chế hiệu quả của điều trị dự phòng bằng kháng sinh trong chuyển dạ.


Mục tiêu nghiên cứu: Tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B và 1 số yếu tố liên quan.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phương pháp cắt ngang mô tả. Chọn những thai phụ tuổi thai ≥ 37 0/7 nhập viện và chấm dứt thai kỳ tại khoa sanh Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức.


Kết quả: Nhóm tuổi thai phụ tập trung chủ yếu trong khoảng 30–39 tuổi (56,5%). Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 29,66 ± 4,95 tuổi, với tuổi nhỏ nhất là 19 và lớn nhất là 40. Nhóm cư trú tại thành thị chiếm ưu thế (56,5%), trong khi nhóm thành thị chiếm 43,5%. Tỷ lệ thai phụ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B là 33 trường hợp (chiếm tỷ lệ 28,7%). Giá trị BMI trung bình là 22,1 ± 2,97, đa số thuộc nhóm BMI bình thường 18,5–22,9 (66,1%), tiếp theo là hai nhóm BMI ≥23 chiếm tổng cộng 27,8%.  Thai phụ có viêm âm đạo có tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B cao gấp 6,37 lần so với nhóm không bị viêm âm đạo (p=0,000). Tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B ở nhóm thai phụ có BMI ≥ 23 cao hơn so với nhóm BMI (OR = 1,46) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Thai phụ ≥ 35 tuổi có nguy cơ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B nhiều hơn thai phụ < 35 tuổi (OR = 1,94), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.


Kết luận: thai phụ bị viêm âm đạo trong thai kỳ có tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B cao hơn nhóm không bị viêm âm đạo.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Chung Viêng, Huỳnh Nguyễn Phương Thảo, Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (2024), “Nghiên cứu tình hình nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B (GBS) và một số yếu tố liên quan trên thai phụ tại Bệnh viện Phụ Sản Thành Phố Cần Thơ năm 2023”, Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, Số 76, tr 1-8.
[2] DOI: 10.58490/ctump.2024i76.2418
[3] Phạm Thị Hạnh, Nguyễn Hữu Trung (2023), “Tỷ lệ nhiễm Streptococcus nhóm B âm đạo - trực tràng ở thai phụ 36-38 tuần và một số yếu tố liên quan tại Bệnh Viện Quân Y 87”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 520 (1B) DOI: 10.51298/vmj.v520i1B.3820
[4] Phạm Thu Trang, Phạm Thị Thanh Hiền, Đỗ Tuấn Đạt (2023), “Tỷ lệ mang liên cầu nhóm B và kết quả thai kỳ ở sản phụ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam. DOI: 10.31276/VJST.65(11).01-05
[5] Victoria Parente et al (2017), “Risk factors for Group B streptococcal disease in neonates of mothers with negative antenatal testing”, Journal of Perinatology, Vol.35(3), pp.157 – 165.
[6] DOI: 10.1038/jp.2016.196
[7] Mubashir Ahmad Khan et al (2015), “Maternal colonization of group B streptococcus: Prevalence, associated factors and antimicrobial resistance”, Annals of Saudi Medicine, Vol.35(6), pp423-427.
[8] DOI: 10.5144/0256-4947.2015.423
[9] Chen Z., Wen G., et al. (2019), ‘’Group B streptococcus colonisation and associated risk factors among pregnant women: A hospital-based study and implications for primary care’’, International Journal of Clinical Practice, 73(5), pp. e13276.
[10] DOI: 10.1111/ijcp.13276
[11] Shelby M. Kleweis (2015), “Maternal Obesity and Rectovaginal Group B Streptococcus Colonization at Term”, Infectious Diseases in Obstetrics and Gynecology, Vol.230 (3), pp.123 – 135.
[12] DOI: 10.1155/2015/586731
[13] Vũ Hương Huyền, Nguyễn Hữu Trung, Phan Thị Hằng (2026), “Mối liên quan giữa đái tháo đường thai kỳ và tình trạng nhiễm streptococcus nhóm B trên thai phụ đến khám tại Bệnh Viện Hùng Vương”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 554(2).
[14] DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v554i2.15760
[15] Nguyễn Thị Thủy, Ngũ Quốc Vĩ (2025), “Nghiên cứu tình hình, một số yếu tố liên quan và kết quả thai kỳ ở sản phụ nhiễm liên cầu khuẩn nhóm B tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2024 – 2025”, Tạp Chí Y học Việt Nam, 552(1).
[16] DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v552i1.14934
[17] P. Phoompoung (2021), "Incidence of invasive Group B Streptococcus (GBS) infections and the factors associated with GBS mortality in adults during 2013-2017: a retrospective study at Thailand's largest national tertiary referral center", Ann Med. 53(1), 715-721.
[18] DOI: 10.1080/07853890.2021.1925141