BÁO CÁO CA BỆNH HỘI CHỨNG TĂNG NHIỄM GIUN LƯƠN TRÊN BỆNH NHÂN CUSHING DO SỬ DỤNG THUỐC CORTICOID KÉO DÀI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bệnh giun lươn thường gặp ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, khi nhiễm giun lươn có thể gây hội chứng tăng nhiễm giun lươn, bệnh thường diễn tiến nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chúng tôi thông báo ca bệnh mắc hội chứng tăng nhiễm giun lươn ở bệnh nhân có hội chứng Cushing do sử dụng corticoid kéo dài kèm theo đái tháo đường típ 2 nhằm chia sẻ các thông tin giúp các nhà lâm sàng có thêm những dữ liệu cân thiết trong thực hành điều trị bệnh.
Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nữ 74 tuổi ngụ tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, thoái hóa khớp gối nhiều năm đã được điều trị với thuốc kháng viêm corticosteroid. Bệnh nhân nhập viện vì khó thở, mệt. Triệu chứng đường hô hấp khó thở ngày càng tăng, được điều trị oxy mask có túi dự trữ sau đó được đặt nội khí quản thở máy. Xét nghiệm đàm và soi phân cho thấy ấu trùng giun lươn. Cấy máu dương tính Enterococcus faecium nhạy Vancomycin. Xét nghiệm Eosinophil máu bình thường tại thời điểm nhập viện. Trong quá trình điều trị bệnh nhân xuất hiện biến chứng viêm phổi nặng kèm hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), xuất huyết tiêu hóa trên nghi do loét dạ dày tá tràng. Bệnh nhân được điều trị Ivermectin, phối hợp kháng sinh Meropenem và Vancomycin. Sau 9 ngày điều trị bệnh nhân cai được máy thở, sau 16 ngày điều trị bệnh nhân khỏi bệnh xuất viện.
Kết luận: Hội chứng tăng nhiễm giun lươn trên bệnh nhân sử dụng corticosteroid kéo dài có tiên lượng tử vong cao với bệnh cảnh suy hô hấp cấp (ARDS) và nhiễm trùng huyết thứ phát. Tình trạng bạch cầu ái toan trong giới hạn bình thường là một thách thức lớn, dễ gây bỏ sót chẩn đoán. Cần chủ động tầm soát ký sinh trùng trước khi điều trị ức chế miễn dịch và phối hợp sớm Ivermectin liều cao cùng hồi sức tích cực để cải thiện kết cục lâm sàng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Hội chứng tăng nhiễm giun lươn, Strongyloides Stercoralis, Enterococcus faecium, viêm phổi.
Tài liệu tham khảo
[2] Quang HH, HV H. Hội chứng tăng nhiễm với ấu trùng giun lươn điển hình: Báo cáo ca bệnh và Tổng hợp y văn. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2012;16(3):193.
[3] Hương NT LN. Báo cáo ca bệnh tăng nhiễm giun lươn điều trị khỏi bằng Thiabendazole đường uống. Y học thực hành. 2013;879(9):75-8.
[4] Vân TTH TP, Thủy VTT, Biên LHT, Yến HTH. Hội chứng tăng nhiễm giun lươn ở bệnh nhân sử dụng Corticosteroid Y Học TP Hồ Chí Minh. 2018;22.
[5] Keiser PB, Nutman TB. Strongyloides stercoralis in the Immunocompromised Population. 2004;17(1):208-17.
[6] Marcos LA, Terashima A, DuPont HL, Gotuzzo E. Strongyloides hyperinfection syndrome: an emerging global infectious disease. Transactions of The Royal Society of Tropical Medicine and Hygiene. 2008;102(4):314-8.
[7] Fardet L, Généreau T, Poirot J-L, Guidet B, Kettaneh A, Cabane J. Severe strongyloidiasis in corticosteroid-treated patients: Case series and literature review. Journal of Infection. 2007;54(1):18-27.
[8] Buonfrate D, Salas-Coronas J, Muñoz J, Maruri BT, Rodari P, Castelli F, et al. Multiple-dose versus single-dose ivermectin for Strongyloides stercoralis infection (Strong Treat 1 to 4): a multicentre, open-label, phase 3, randomised controlled superiority trial. The Lancet Infectious Diseases. 2019;19(11):1181-90.
[9] Tuyền HT, Dũng NV, Thảo ĐTP, Đức PV, Minh PLT. Hội chứng tăng nhiễm ấu trùng giun lươn trên bệnh nhân phụ thuộc corticoid. Tạp chí Khoa học tiêu hóa Việt Nam. 2022;10(67).
[10] Trà ĐT, Hương PTT. Báo cáo ca bệnh nhiễm giun lươn tăng nhiễm đồng nhiễm với khuẩn huyết do E. Coli tại Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2025;194(9):764-72.
[11] Linh NT, Hương NTT. Báo cáo ca bệnh hạ natri máu do nhiễm giun lươn ở bệnh nhân suy thượng thận do thuốc. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2024;185(12):393-7.
[12] Hoàng BH, Luân ĐM, Chương NĐ, Duy BK, Phamarcy. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở bệnh nhân nhiễm giun lươn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Journal of 108-Clinical Medicine. 2024.
[13] Nguyễn TC, Đặng QT, Phạm NT. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh nhân nhiễm Strongyloides stercoralis nặng ở bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung Ương và bệnh viện Bạch Mai (2/2013 - 9/2019). Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam. 2020;1(29):49-53.
[14] Vadlamudi RS, Chi DS, Krishnaswamy GJC, Allergy M. Intestinal strongyloidiasis and hyperinfection syndrome. 2006;4:1-13.
[15] Rodpai R, Sanpool O, Thanchomnang T, Laoraksawong P, Sadaow L, Boonroumkaew P, et al. Exposure to dexamethasone modifies transcriptomic responses of free-living stages of Strongyloides stercoralis. 2021;16(6):e0253701.
[16] Segarra-Newnham MJAoP. Manifestations, diagnosis, and treatment of Strongyloides stercoralis infection. 2007;41(12):1992-2001.
[17] Woodring JH, Halfhill 2nd H, Reed JC. Pulmonary strongyloidiasis: clinical and imaging features. AJR American journal of roentgenology. 1994;162(3):537-42.
[18] Hegde U, Patel H, Chakurkar V. Acute respiratory distress syndrome due to strongyloides stercoralis in Lupus nephritis.
[19] SCOWDEN EB, SCHAFFNER W, STONE WJJM. Overwhelming strongyloidiasis: an unappreciated opportunistic infection. 1978;57(6):527-44.
[20] Henriquez‐Camacho C, Gotuzzo E, Echevarria J, White Jr AC, Terashima A, Samalvides F, et al. Ivermectin versus albendazole or thiabendazole for Strongyloides stercoralis infection. Cochrane Database of Systematic Reviews. 2016(1).
[21] Mejia R, Nutman TB. Screening, prevention, and treatment for hyperinfection syndrome and disseminated infections caused by Strongyloides stercoralis. Current Opinion in Infectious Diseases. 2012;25(4).