ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NẤM DA TRÊN NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ và một số yếu tố liên quan đến nấm da trên người bệnh đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Bệnh nhân được chẩn đoán nấm da bằng xét nghiệm soi tươi và nuôi cấy trên môi trường Dermatophytes Test Agar. Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn các thông tin liên quan đặc điểm dịch tễ và các yếu tố liên quan.
Kết quả: Tỷ lệ nhiễm nấm da ở người bệnh có tổn thương nghi ngờ nhiễm nấm là 26%. Nhóm tuổi ≥ 60 có tỷ lệ nhiễm nấm da cao hơn so với nhóm < 20 tuổi (p = 0,03). Tỷ lệ nhiễm ở nam (27,8%) cao hơn nữ (24,2%), nhưng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Người bệnh sống tại nông thôn có tỷ lệ nhiễm nấm da cao hơn có ý nghĩa thống kê so với thành thị (p < 0,05). Cư trú nông thôn (AOR = 2,23; p < 0,05), sử dụng corticoid (AOR = 5,90; p < 0,001) và mặc quần áo ẩm (AOR = 6,28; p < 0,001) là các yếu tố liên quan độc lập với nhiễm nấm da.
Kết luận:Nấm da vẫn là bệnh lý thường gặp, đặc biệt ở người cao tuổi. Các yếu tố hành vi và môi trường, nhất là sử dụng corticoid và mặc quần áo ẩm, đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ nhiễm nấm da.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Nấm da, tỷ lệ nhiễm, yếu tố nguy cơ
Tài liệu tham khảo
[2]. Tăng Tuấn Hải, Trần Phủ Mạnh Siêu, Ngô Quốc Đạt (2021), Các chủng Vi Nấm ngoài da phân lập được và độ nhạy với các thuốc kháng nấm hiện naytrên Người bệnh đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021, Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 508, Số 2, trang 358 – 362.
[3]. Nguyễn Thái Dũng (2017), Nghiên cứu một số đặc điểm và kết quả điều trị nấm da ở bệnh nhân đến khám và điều trị tại Trung tâm chống Phong - Da liễu Nghệ An 2015 - 2016. Luận án Tiến sỹ Y học, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương.
[4]. Mina Ali Dawa, Tewodros Tesfa, Fitsum Weldegebreal (2021), Mycological Profile and Its Associated Factors Among Patients Suspected of Dermatophytosis at Bisidimo Hospital, Eastern Ethiopia, Clinical, Cosmetic and Investigational Dermatology, 2021:14, 1899 – 1908.
[5]. Alma Aimoldina, Ainura Smagulova, Gulnar Batpenova, Nellie Konnikov, Togzhan Algazina, Zulfiya Jetpisbayeva, Dinara Azanbayeva, Darkhan Amantayev and Vladimir Kiyan (2025), Mycologocal Profile and Associated Factors Among Patients with Dermatophytosis in Astana, Kazakhstan, Journal of Fungi, 1Vol.1( 65).
[6]. Lakshmi Vasantha Poluri, Jyothi P Indugula1 , Sai L Kondapaneni (2015), Clinicomycological Study of Dermatophytosis in South India, Journal of Laboratory Physicians, Vol 7, issue 2, pages 84 – 89.
[7]. Cao Bích Ngọc, Phạm Thị Minh Phương (2023), Đặc điểm lâm sàng bệnh nấm thân tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 524(1a), Tr. 38 – 41.
[8]. Soniya Mahajan, Ragini Tilak, Satyendra K, et al (2017), Clinico mycological study of dermatophytic infections and their sensitivity to antifungal drugs in a tertiary care center, Indian Journal of Dermatology, Vol 83, Issuse 4, pages 436 – 440.
[9]. Abhineetha Hosthota, Trupthi Gowda, Rajini Manikonda (2018), Clinical profile and risk factors of dermatophytoses: a hospital based study, International Journal of Research in Dermatology, Vol.4 (4), pp.508-513.
[10]. Phạm Văn Tuấn và CS (2021), Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng trong bệnh nấm da thân tại Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh, Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, Tập 16,(1), Tr. 43 – 47.
[11]. Nguyễn Thị Quỳnh, Trần Đăng Quyết (2022), Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nấm da điều trị tại Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 9/2021 đến tháng 6/2022, Tạp chí Y Dược học Quân sự, Tập 15(7), Tr. 80 – 90