TỈ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HUYẾT THANH DƯƠNG TÍNH VỚI TOXOCARA SPP. Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA, NĂM 2024
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bệnh ấu trùng giun đũa chó, mèo (Human Toxocariasis), gây ra bởi ấu trùng Toxocara spp., là bệnh lây truyền từ động vật sang người qua đường tiêu hoá. Bệnh thường biểu hiện dưới dạng dương tính huyết thanh không triệu chứng hoặc các hội chứng nghiêm trọng như Ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM). Tỷ lệ lưu hành cao ở Việt Nam và các yếu tố hành vi (như nuôi chó mèo, vệ sinh) là mối quan ngại về sức khỏe cộng đồng, thúc đẩy nghiên cứu này tại Bà Rịa – Vũng Tàu.
Mục tiêu: (i) Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara spp.. (ii). Mô tả một số yếu tố liên quan đến huyết thanh dương tính với kháng thể IgG kháng Toxocara spp.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 506 bệnh nhân tại Bệnh viện Bà Rịa. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn KAP và xét nghiệm ELISA để chẩn đoán IgG kháng Toxocara spp., cùng với chỉ số bạch cầu áii toan (BCAT). Phân tích thống kê sử dụng hồi quy logistics để xác định tỷ số chênh (OR) của một số yếu tố nguy cơ độc lập.
Kết quả: 1.Tỷ lệ huyết thanh dương tính chung là 16,0% (81/506). 2. Có bốn yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê được xác định: Không tẩy giun cho vật nuôi (OR = 3,08; p < 0,001) là yếu tố nguy cơ mạnh nhất; Tăng BCAT (OR = 2,45; p < 0,001); Nghề nghiệp nông nghiệp và Buôn bán nhỏ (OR = 1,96; p = 0,004) và thường xuyên ăn rau sống (OR = 1,52; p = 0,019).
Kết luận: Tỷ lệ phơi nhiễm Toxocara spp. tại điểm nghiên cứu là 16,0%. Các yếu tố nguy cơ hành vi và môi trường (đặc biệt là quản lý vật nuôi kém) đóng vai trò chủ đạo. Cần tăng cường giáo dục về tẩy giun định kỳ cho vật nuôi và vệ sinh thực phẩm để kiểm soát lây nhiễm.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Toxocara spp., Huyết thanh dương tính, Tỷ lệ lưu hành, Bạch cầu ái toan, Tẩy giun vật nuôi, Bà Rịa.
Tài liệu tham khảo
[2] Pawłowski, Z., et al. (2001). Toxocariasis in Humans: Clinical Aspects, Diagnosis and Treatment. WHO/PAHO Technical Report.
[3] Despommier, D. (2003). Toxocariasis: clinical aspects, epidemiology, medical ecology, and molecular aspects. Clinical Microbiology Reviews, 16(2), 265-272.
[4] Minh, P. H., et al. (2018). Seroprevalence and associated factors of human toxocariasis in a rural area of Southern Vietnam. BMC Infectious Diseases, 18(1), 1-7.
[5] Nguyễn Thanh Thế. (2020). Nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó (Toxocara canis) ở người tại một số xã huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Luận văn Thạc sĩ.
[6] Overgaauw, P. A. M., et al. (2013). Zoonotic aspects of Toxocara spp.: unravelling the continuously changing puzzle. Veterinary Parasitology, 193(3), 396-403.
[7] Magnaval, J. F., et al. (2001). Toxocara and human health: a review. Current Opinion in Infectious Diseases, 14(5), 603-608.
[8] Chen, J., et al. (2019). Soil contamination with Toxocara spp. eggs in public places: a systematic review and meta-analysis. Parasites & Vectors, 12(1), 1-13.
[9] WHO (World Health Organization). (Latest Edition). Guidelines for the integrated control of neglected zoonotic diseases.
[10] Đặng Thị Mỹ Hạnh. (2021). Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh giun đũa chó mèo ở người. Tài liệu tập huấn chuyên ngành Ký sinh trùng.