ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG BẮT CHẸN VAI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hai mục tiêu: (1) Khảo sát các đặc điểm hình ảnh trên X-quang và cộng hưởng từ (MRI) ở bệnh nhân mắc hội chứng bắt chẹn vai (HCBCV); (2) Đánh giá kết quả điều trị HCBCV bằng phương pháp phẫu thuật nội soi.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca tiến cứu được thực hiện trên 30 bệnh nhân được chẩn đoán HCBCV đã điều trị bảo tồn thất bại. Nghiên cứu diễn ra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa từ tháng 03/2024 đến tháng 12/2025. Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên thang điểm đau VAS, thang điểm chức năng Constant và UCLA trước và sau phẫu thuật.
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 55,8 ± 8,6 tuổi. Trên hình ảnh học, mỏm cùng vai type II chiếm tỉ lệ cao nhất (60%), kế đến là type III (23,3%). Góc mỏm cùng vai trung bình là 26,60, khoảng cách mỏm cùng đến chỏm xương cánh tay trung bình là 6 mm. Sau phẫu thuật, điểm đau VAS trung bình giảm đáng kể từ 6,2 xuống còn 0,5 (p < 0,01). Theo thang điểm Constant, 93,4% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt. Theo thang điểm UCLA, 90% bệnh nhân đạt kết quả tốt và rất tốt. Không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng nào sau phẫu thuật.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi là một phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị hội chứng bắt chẹn vai, giúp giảm đau rõ rệt, cải thiện chức năng khớp vai và có tỉ lệ biến chứng thấp.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Hội chứng bắt chẹn vai, phẫu thuật nội soi, tạo hình mỏm cùng vai, thang điểm Constant, thang điểm UCLA.
Tài liệu tham khảo
[2] Lê Văn Phước và Trần Đại Nghĩa (2023). Tương quan hình thái học mỏm cùng vai của bệnh nhân có hội chứng bắt chẹn vai ngoại sinh trên cộng hưởng từ, Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch, 2 (2).
[3] Bigliani, Lu and W.N.Levine (1997), Current Concepts Review Subacromial Impingement Syndrome. The Journal of Bone and Joint Surgery, (79-A (12)): p. 1854-1868.
[4] Canale, S.T. and J.H. Beaty, Campbell's Operative Orthopaedics. 2021 (14th Edition): p. 2221.
[5] Chang, W.K (2004). Shoulder impingement syndrome, Phys Med Rehabil Clin N Am, 15(2): 493-510.
[6] Consigliere P, Haddo O, Levy O, Sforza G (2018). Subacromial impingement syndrome: management challenges, Orthop Res Rev, 10: 83-91.
[7] M. Feucht, S.Baun (2015). Arthroscopic subacromial decompression. In: Surgical atlas of sports orthopaedics and sports traumatology, Andreas B.Imhoff (eds), Springer, Chapter 2, pp. 12 – 16.
[8] Hawkins, R.J., et al. Acromioplasty for chronic impigement with an intact rotator cuff. british editorial society of bone and joint, 1988(70-B): p. 795-797.
[9] Katolik LI, Romeo AA, Cole BJ, Verma NN, Hayden JK, Bach BR (2005). “Normalization of the Constant score”. J Shoulder Elbow Surg, vol 14, pp. 279-85
[10] Neer, C.S (1972). Anterior Acromioplasty for the Chronic Impingement Syndrome in the Shoulder: A PRELIMINARY REPORT, The Journal of Bone and Joint Surgery, p: 41-50.
[11] Oh, J.H., et al.(2010). Classification and clinical significance of acromial spur in rotator cuff tear: heel-type spur and rotator cuff tear, Clin Orthop Relat Res. 468(6): 1542-50.