NHIỄM NẤM CANDIDA ĐƯỜNG TIẾT NIỆU Ở BỆNH NHÂN ĐẶT SONDE TIỂU TẠI ĐƠN VỊ CHĂM SÓC TÍCH CỰC (ICU): NGHIÊN CỨU MÔ TẢ CẮT NGANG TẠI BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC HUẾ

Lê Anh Thư1, Trần Thị Giang2, Phạm Nhật Minh2, Tôn Nữ Phương Anh2, Trương Thị Huyền3, Trần Thị Bích Thảo3, Ngô Thị Minh Châu2,4
1 Sinh viên ngành Kỹ thuật Xét nghiệm Y học, khóa 2021-2025, Trường ĐH Y-Dược, Đại học Huế
2 Bộ môn Ký sinh trùng, Trường ĐH Y- Dược, Đại học Huế
3 Đơn vị ICU, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế
4 Viện Y sinh học, Trường ĐHYD, Đại học Huế

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Nhiễm nấm Candida đường tiết niệu là tình trạng gặp phổ biến ở bệnh nhân điều trị tại đơn vị ICU, đặc biệt bệnh nhân đặt sonde tiểu. Mặc dù C. albicans là loài phổ biến nhất phân lập từ đường tiết niệu, nhưng sự gia tăng tỷ lệ do các loài non-albicans Candida cũng được báo cáo gần đây.


Mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ nhiễm nấm Candida tiết niệu của bệnh nhân đặt sonde tiểu điều trị tại đơn vị ICU, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế. 2. Định danh loài Candida spp. phân lập được từ bệnh phẩm nước tiểu.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 47 bệnh nhân đặt sonde tiểu đang điều trị tại đơn vị ICU, khoa Gây mê – Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế trong thời gian 05/2024 đến 05/2025.


Kết quả: Tỷ lệ nhiễm nấm Candida tiết niệu là 63,8% và tỷ lệ mẫu có số đơn vị khúm nấm Candida ≥ 103 CFU/ml là 57,4%. Kết quả có 5 loài Candida phân lập được. Trong đó C. tropicalis chiếm tỷ lệ cao nhất (45,5%), tiếp theo là Candida albicans (33,3%) và các loài non-albicans Candida khác chiếm tỷ lệ 21,2%. Có 86,7% mẫu bệnh phẩm nước tiểu phân lập được 1 loài vi nấm và 13,3% phân lập được 2 loài vi nấm.


Kết luận:  non- albicans Candida có tỷ lệ cao hơn C. albicans trong bệnh phẩm nước tiểu ở bệnh nhân đặt sonde tiểu điều trị tại ICU (66,7% và 33,3%), trong đó loài phổ biến nhất là C. tropicalis.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Anh Đào, Nguyễn Võ Dũng, Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự. Khảo sát tỷ lệ nhiễm, mức độ kháng thuốc kháng nấm của Candida sp. gây nhiễm trùng đường tiết niệu phân lập được tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam. 2020;1(29):25-9.
[2] Fisher JF. Candida urinary tract infections: epidemiology, pathogenesis, diagnosis, and treatment: executive summary. Clin Infect Dis. 2011;52 Suppl 6:S429-32.
[3] Dias V. Candida species in the urinary tract: is it a fungal infection or not? Future Microbiol. 2020;15:81-3.
[4] Gharanfoli A, Mahmoudi E, Torabizadeh R, Katiraee F, Faraji S. Isolation, characterization, and molecular identification of Candida species from urinary tract infections. Curr Med Mycol. 2019;5(2):33-6.
[5] Kauffman CA, Vazquez JA, Sobel JD, Gallis HA, McKinsey DS, et al. Prospective multicenter surveillance study of funguria in hospitalized patients. The National Institute for Allergy and Infectious Diseases (NIAID) Mycoses Study Group. Clin Infect Dis. 2000;30(1):14-8.
[6] Kim SJ, Ryu JH, Kim YB, Yang SO. Management of Candida Urinary Tract Infection in the Elderly. Urogenit Tract Infect. 2019;14(2):33-41.
[7] Osawa K, Shigemura K, Yoshida H, Fujisawa M, Arakawa S. Candida urinary tract infection and Candida species susceptibilities to antifungal agents. J Antibiot (Tokyo). 2013;66(11):651-4.
[8] Ngo TMC, Santona A, Fiamma M, Ton Nu PA, Do TBT, et al. Azole non-susceptible Candida tropicalis and polyclonal spread of Candida albicans in Central Vietnam hospitals. J Infect Dev Ctries. 2023;17(4):550-8.
[9] Odabasi Z, Mert A. Candida urinary tract infections in adults. World journal of urology. 2020;38(11):2699-707.
[10] Quế Anh Trâm, Trần Thị Lý. Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm và các căn nguyên gây nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện liên quan đến ống thông bàng quang. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;529(1).
[11] Nguyễn Thị Hồng. Tần suất, mầm bệnh, các yếu tố nguy cơ và quản lý nhiễm khuẩn tiết niệu liên quan tới ống thông ở bệnh nhân đột quỵ tại Bệnh viện Hữu nghị. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;527(2):282-6.
[12] Gajdács M, Dóczi I, Ábrók M, Lázár A, Burián K. Epidemiology of candiduria and Candida urinary tract infections in inpatients and outpatients: results from a 10-year retrospective survey. Cent European J Urol. 2019;72(2):209-14.
[13] Alvarez-Lerma F, Nolla-Salas J, León C, Palomar M, Jordá R, et al. Candiduria in critically ill patients admitted to intensive care medical units. Intensive Care Med. 2003;29(7):1069-76.
[14] Nguyễn Thị Bảo Liên, Lê Thị Nhài, Ngô Văn Quỳnh, Nguyễn Bá Thắng. Thực trạng nhiễm trùng tiết niệu liên quan đến ống thông tiểu tại khoa Hồi sức tích cực – Chống độc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;546(1).
[15] Kim B, Pai H, Choi WS, Kim Y, Kweon KT, Kim HA, et al. Current status of indwelling urinary catheter utilization and catheter-associated urinary tract infection throughout hospital wards in Korea: A multicenter prospective observational study. PLoS One. 2017;12(10):e0185369.
[16] Trương Thiên Phú, Nguyễn Ngọc Trương, Nguyễn Thị Nam Phương, Nguyễn Ngọc Minh Tâm, Nguyễn Thị Phương Linh và cộng sự. Tình hình đề kháng thuốc kháng nấm của các loài Candida spp. gây nhiễm khuẩn huyết và nhiễm khuẩn tiết niệu. Tạp chí Truyền nhiễm Việt Nam. 2020;1:19-24.
[17] Aubron C, Suzuki S, Glassford NJ, Garcia-Alvarez M, Howden BP, et al. The epidemiology of bacteriuria and candiduria in critically ill patients. Epidemiol Infect. 2015;143(3):653-62.
[18] Sobel JD, Kauffman CA, McKinsey D, Zervos M, Vazquez JA, et al. Candiduria: a randomized, double-blind study of treatment with fluconazole and placebo. The National Institute of Allergy and Infectious Diseases (NIAID) Mycoses Study Group. Clin Infect Dis. 2000;30(1):19-24.