KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH VÀ KẾT CỤC THAI KỲ CỦA THAI NHI BỊ THOÁT VỊ HOÀNH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2020-2025

Đinh Thúy Linh1, Trương Quang Vinh1,2, Lương Hoàng Thành1,2, Đinh Thị Thảo Phương1,2
1 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
2 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình thái các trường hợp thai nhi bị thoát vị hoành và nhận xét kết cục thai kỳ của thai nhi bị thoát vị hoành.


Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 138 thai phụ mang thai nhi được chẩn đoán thoát vị hoành bẩm sinh trước sinh bằng siêu âm tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 08 năm 2025.


Kết quả: Phần lớn các trường hợp thoát vị hoành được phát hiện có vị trí bên trái (89,1%). Các trường hợp thoát vị bên phải chiếm tỷ lệ nhỏ (10,1%) và chỉ ghi nhận 1 trường hợp thoát vị thể trung tâm (0,8%). Thành phần tạng thoát vị chủ yếu là nhiều cơ quan kết hợp (34,8%), trong đó dạ dày và ruột là hai tạng thường gặp nhất (83,3% và 65,2%). Nhóm thoát vị phải có tỷ lệ tử vong cao hơn (50,0%) so với thoát vị trái (14,9%) (p = 0,021). Trẻ có thoát vị gan cũng cho thấy tỷ lệ tử vong sau mổ cao hơn đáng kể (55,6%) so với nhóm không thoát vị gan (5,1%). Sau sinh, tất cả trẻ đều được đặt nội khí quản (100%), trong đó 80,5% thở máy thường, 19,5% thở máy tần số cao và 28,5% có sử dụng thuốc vận mạch. 90,5% được phẫu thuật, chủ yếu khâu cơ hoành trực tiếp. Tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật là 18,1%.


Kết luận: Nghiên cứu cho thấy phần lớn thoát vị hoành được phát hiện ở tuổi thai 22–28 tuần, chủ yếu là thoát vị bên trái và đa số thai phụ có sức khỏe, tiền sử sản khoa bình thường. Thoát vị hoành bên phải, đặc biệt kèm thoát vị gan, liên quan tiên lượng nặng và tỷ lệ tử vong cao hơn. Hầu hết thai phụ tiếp tục thai kỳ, trẻ sau sinh đều cần hồi sức tích cực và phẫu thuật, trong đó khâu cơ hoành trực tiếp chiếm ưu thế. Kết quả sau mổ khả quan với tỷ lệ sống cao hơn tỷ lệ tử vong

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Trác LM, Hà TD. Nhận xét kết quả điều trị sớm sau sinh thoát vị hoành bẩm sinh. Tạp chí Phụ sản. 2024;22(4):21-26. doi:10.46755/vjog.2024.4.1766
[2] Bùi TTH, Võ MT. Kết cục thai kỳ các trường hợp thoát vị hoành bẩm sinh đơn thuần tại Bệnh viện Từ Dũ. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022;520(1A). doi:10.51298/vmj.v520i1.3764
[3] Orlandi G, Toscano P, Gabrielli O, et al. Prenatal Diagnosis of an Intrathoracic Left Kidney Associated with Congenital Diaphragmatic Hernia: Case Report and Systematic Review. J Clin Med. 2023;12(11):3608. doi:10.3390/jcm12113608
[4] Conte L, Amodeo I, De Nunzio G, et al. A machine learning approach to predict mortality and neonatal persistent pulmonary hypertension in newborns with congenital diaphragmatic hernia. A retrospective observational cohort study. Eur J Pediatr. 2025;184(4):238. doi:10.1007/s00431-025-06073-0
[5] Ammar JMB, Mraihi F, Ahmed HB, Basly J, Zargouni O, Chelli D. VP14.11: Accuracy of the sonography in the diagnosis of congenital diaphragmatic hernia and prediction of short outcome. Ultrasound in Obstetrics & Gynecology. 2021;58(S1):158-158. doi:10.1002/uog.24249
[6] Kim PH, Kwon H, Yoon HM, et al. Postnatal Imaging for Prediction of Outcome in Patients with Left-sided Congenital Diaphragmatic Hernia. The Journal of Pediatrics. 2022;251:89-97.e3. doi:10.1016/j.jpeds.2022.07.037
[7] Brosens E, Peters NCJ, van Weelden KS, et al. Unraveling the Genetics of Congenital Diaphragmatic Hernia: An Ongoing Challenge. Front Pediatr. 2022;9:800915. doi:10.3389/fped.2021.800915
[8] Russo FM, Cordier AG, De Catte L, et al. Proposal for standardized prenatal ultrasound assessment of the fetus with congenital diaphragmatic hernia by the European reference network on rare inherited and congenital anomalies (ERNICA). Prenatal Diagnosis. 2018;38(9):629-637. doi:10.1002/pd.5297