TỶ LỆ NHAU TIỀN ĐẠO VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở THAI PHỤ SINH TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2023–2024

Huỳnh Ngọc Linh1, Nguyễn Việt Trí2, Nguyễn Thể Tần1, Phan Thị Ngọc Diễm1
1 Trường Cao đẳng Y tế Cà Mau
2 Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhau tiền đạo và các yếu tố liên quan ở thai phụ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Cà Mau giai đoạn 2023–2024.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 5.348 thai phụ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Cà Mau. Tình trạng nhau tiền đạo và các yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic.


Kết quả: Tỷ lệ nhau tiền đạo là 3,14%, nhau tiền đạo trung tâm chiếm tỷ lệ cao nhất (58,33%), tiếp theo là nhau bám mép (19,64%), nhau tiền đạo bán trung tâm (17,26%), nhau bám thấp (4,77%). Phân tích đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến nhau tiền đạo gồm: tiền sử nhau tiền đạo (ORHC =6,13; 95%CI: 2,32–9,81; p < 0,001), tiền sử mổ lấy thai (ORHC=2,38; 95% CI: 1,25–4,47; p < 0,001), đa sản (ORHC=1,43; 95% CI: 1,01–2,03; p=0,044), tuổi mẹ ≥ 35 (ORHC =1,72; 95%CI: 1,24–2,40; p=0,001) và tiền sử nạo phá thai (ORHC = 1,62; 95%CI: 1,13–2,34; p=0,009).


Kết luận: Tỷ lệ nhau tiền đạo trung tâm ở mức tương đối cao. Tiền sử sản khoa, đặc biệt là tiền sử nhau tiền đạo và mổ lấy thai, là các yếu tố nguy cơ quan trọng, cho thấy sự cần thiết của việc sàng lọc nguy cơ và theo dõi chặt chẽ thai phụ có yếu tố nguy cơ cao.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Faiz, A. S., & Ananth, C. V. (2003). Etiology and risk factors for placenta previa: An overview and meta-analysis. Obstetrics & Gynecology, 102(4), pp:755-765. https://doi: 10.1080/jmf.13.3.175.190.
[2] Cunningham, F. G., Leveno, K. J., Bloom, S. L., Dashe, J. S., Hoffman, B. L., Casey, B. M., & Spong, C. Y. (2022). Williams obstetrics (26th ed.). McGraw-Hill Education.
[3] Lâm, Đức Tâm, Lý, T. M. T., & Phạm, Đ. L. (2023). Tỷ lệ và một số yếu tố nguy cơ của nhau tiền đạo tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2019–2021. Tạp chí Phụ sản, 21(3), 15–21. https://Doi. 10.46755/vjog.2023.3.1617
[4] Trương, T. L. G., & Trần, T. M. C. (2023). Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan của nhau tiền đạo tại Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế. Tạp chí Phụ sản, 21(3), 22–27. https://doi.10.46755/vjog.2023.3.1614
[5] Silver, R. M., Landon, M. B., Rouse, D. J., Leveno, K. J., Spong, C. Y., Thom, E. A., … Caritis, S. N. (2006). Maternal morbidity associated with multiple repeat cesarean deliveries. Obstetrics & Gynecology, 107(6), 1226–1232. https://doi.org/10.1097/01.AOG.0000219750.79480.84
[6] Jauniaux, E., Ayres-de-Campos, D., Langhoff-Roos, J., Fox, K. A., & Collins, S. (2018). FIGO consensus guidelines on placenta accreta spectrum disorders: Epidemiology. International Journal of Gynecology & Obstetrics, 140(3), 265–273. https://doi.org/10.1002/ijgo.12407
[7] Ananth, C. V., Smulian, J. C., & Vintzileos, A. M. (2003). The association of placenta previa with history of cesarean delivery and abortion: A meta-analysis. American Journal of Obstetrics and Gynecology, 188(5), 1299–1307. https://doi.org/10.1067/mob.2003.328.
[8] Sahu, S. A., & Shrivastava, D. (2024). Maternal and perinatal outcomes in placenta previa: A comprehensive review of evidence. Cureus, 16(5), e59737. https://doi.org/10.7759/cureus.59737