CHỈ ĐỊNH, CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA VỠ NHU MÔ PHỔI TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

Phạm Hữu Lư1,2, Nguyễn Văn Thành3, Nguyễn Việt Anh1,2, Nguyễn Minh Trí1, Dương Đức Hùng1,2
1 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh Viện Đa khoa Thái Bình

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá chỉ định, yếu tố tiên lượng và kết quả điều trị ngoại khoa ở bệnh nhân vỡ nhu mô phổi.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 42 bệnh nhân vỡ nhu mô phổi được phẫu thuật tại Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 12/2020 đến 12/2024. Các biến số phân tích gồm đặc điểm dịch tễ, cơ chế chấn thương, phân loại tổn thương, chỉ định và phương pháp phẫu thuật, kết quả sau mổ và yếu tố tiên lượng.


Kết quả: Nam giới chiếm 69,0%, tuổi trung bình 35,6 ± 16,3. Tai nạn giao thông là nguyên nhân chủ yếu (78,6%). Khi nhập viện, 28,6% bệnh nhân hôn mê, 33,3% suy hô hấp và 23,8% có sốc. Trên CT ngực, 90,5% tổn thương thuộc nhóm 3 theo phân loại Wagner. Theo phân loại AAST, chỉ định phẫu thuật chủ yếu là tổn thương độ IV–V (64,3%). Các phương pháp phẫu thuật gồm cắt thùy phổi (47,7%), khâu phục hồi nhu mô (42,9%) và cắt hình nêm (21,4%). Phẫu thuật nội soi lồng ngực (VATS) được áp dụng ở 64,3% trường hợp, giúp giảm thời gian mổ, lượng máu mất và thời gian dẫn lưu so với mổ mở. Kết quả sau mổ tốt đạt 80,9%. Các biến chứng gồm xẹp phổi (11,9%), dò khí kéo dài (7,1%), mổ lại (7,1%) và tử vong (9,5%).


Kết luận: Phẫu thuật điều trị vỡ nhu mô phổi cho kết quả khả quan. VATS là phương pháp hiệu quả, ít xâm lấn và hỗ trợ hồi phục tốt. Các yếu tố tiên lượng xấu gồm mất máu >1500 ml, sốc nặng, ISS >25 và suy hô hấp khi nhập viện.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Oikonomou A, Prassopoulos P. CT imaging of blunt chest trauma. Insights into imaging. 2011;2(3):281-295. doi: 10.1007/s13244-011-0072-9
[2] Freixinet Gilart J, Hernández Rodríguez H, Martínez Vallina P, Moreno Balsalobre R, Rodríguez Suárez P. Guidelines for the diagnosis and treatment of thoracic traumatism. Archivos de bronconeumologia. 2011;47(1):41-49. doi:10.1016/j.arbres.2010.05.014.
[3] Chou YP, Kuo LC, Soo KM, et al. The role of repairing lung lacerations during video-assisted thoracoscopic surgery evacuations for retained haemothorax caused by blunt chest trauma. European journal of cardio-thoracic surgery: official journal of the European Association for Cardiothoracic Surgery. 2014;46(1):107-111. doi: 10.1093/ejcts/ezt523.
[4] Nishiumi N, Inokuchi S, Oiwa K, Masuda R, Iwazaki M, Inoue H. Diagnosis and treatment of deep pulmonary laceration with intrathoracic hemorrhage from blunt trauma. The Annals of thoracic surgery. 2010;89(1):232-238.doi: 10.1016/j.athoracsur.2009.09.041.
[5] García A, Millán M, Ordoñez CA, Burbano D, Parra MW, Caicedo Y, et al. Damage control surgery in lung trauma. Colomb Médica CM. 52(2):e4044683. doi: 10.25100/cm.v52i2.4683.
[6] Manlulu AV, Lee TW, Thung KH, Wong R, Yim APC. Current indications and results of VATS in the evaluation and management of hemodynamically stable thoracic injuries. Eur J Cardiothorac Surg. 2004 Jun 1;25(6):1048–53. doi: 10.1016/j.ejcts.2004.02.017.
[7] Karmy-Jones R., Jurkovich G.J. Blunt chest trauma. Curr Probl Surg. 2004;41:223–380. doi: 10.1016/j.cpsurg.2003.12.004.
[8] Matsumoto K, Noguchi T, Ishikawa R, Mikami H, Mukai H, Fujisawa T. The surgical treatment of lung lacerations and major bronchial disruptions caused by blunt thoracic trauma. Surg Today. 1998;28(2):162–6. doi: 10.1007/s005950050099.
[9] Homo RL, Grigorian A, Lekawa M, Dolich M, Kuza CM, Doben AR, et al. Outcomes after pneumonectomy versus limited lung resection in adults with traumatic lung injury. Updat Surg. 2020;72(2):547–53. doi: 10.1007/s13304-020-00727-4.
[10] Stewart KC, Urschel JD, Nakai SS, Gelfand ET, Hamilton SM. Pulmonary Resection for Lung Trauma. Ann Thorac Surg. 1997 Jun 1;63(6):1587–8. doi: 10.1016/s0003-4975(97)00442-6.