ĐÁNH GIÁ CÁC RỐI LOẠN TIC THEO THANG YALE ĐO MỨC ĐỘ NẶNG TỔNG QUÁT CỦA TIC (YGTSS) Ở TRẺ EM ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2025

Lê Vũ Tùng Lâm1, Trương Nguyễn Xuân Quỳnh1, Nguyễn Mai Hương2
1 Đại học Vin University
2 Bệnh viện Nhi Trung ương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá mức độ nặng của các rối loạn tic theo thang Yale đo mức độ nặng tổng quát của tic (YGTSS) và nhận xét một số yếu tố liên quan ở trẻ em đến khám tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2025.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 176 trẻ em dưới 18 tuổi được chẩn đoán mắc rối loạn tic theo tiêu chuẩn ICD-10, đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2025 đến tháng 09/2025, chưa được điều trị tic bằng các liệu pháp dược lý hoặc tâm lý. Mức độ nặng của tic và ảnh hưởng chức năng được đánh giá bằng thang YGTSS do bác sĩ thực hiện. Các đặc điểm lâm sàng và mối liên quan giữa điểm YGTSS với một số yếu tố như giới, tuổi chẩn đoán và thời gian mắc bệnh, rối loạn đồng mắc được phân tích bằng phần mềm RStudio.


Kết quả: Trẻ nam chiếm đa số (75,0%), với tỷ lệ nam/nữ là 3:1. Độ tuổi chẩn đoán trung bình là 6,60 ± 2,63 tuổi; thời gian mắc bệnh trung bình là 0,64 ± 0,86 năm. Phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn tic nhất thời (72,2%). Tổng điểm mức độ tic theo YGTSS trung bình là 16,34 ± 7,01, điểm suy giảm chức năng trung bình là 16,64 ± 6,62 và điểm mức độ nặng tổng thể trung bình là 30,0 ± 11,2. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ nặng của tic theo giới. Tuổi chẩn đoán và thời gian mắc bệnh có mối liên quan thuận có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng của tic. Trẻ có các rối loạn đồng mắc, đặc biệt là tăng động giảm chú ý, tự kỷ, có điểm YGTSS trung bình cao hơn rõ rệt so với nhóm không đồng mắc (p < 0,05).


Kết luận: Các rối loạn tic ở trẻ em có mức độ nặng và ảnh hưởng chức năng đa dạng. Thang YGTSS là công cụ hữu ích giúp đánh giá toàn diện mức độ nặng và suy giảm chức năng của tic. Việc đánh giá rối loạn tic cần được thực hiện theo cách tiếp cận toàn diện, chú trọng phát hiện sớm và quản lý các rối loạn đồng mắc nhằm giảm gánh nặng lâm sàng cho trẻ.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Ueda K, Black KJ. A Comprehensive Review of Tic Disorders in Children. J Clin Med. 2021;10(11):2479. DOI: 10.3390/jcm10112479
[2] Leckman JF, King RA, Bloch MH. Clinical Features of Tourette Syndrome and Tic Disorders. J Obsessive Compuls Relat Disord. 2014;3(4):372 - 379. DOI: 10.1016/j.jocrd.2014.03.004
[3] Zheng R yuan, Jin R, Xu H qin, et al. [Study on the prevalence of tic disorders in schoolchildren aged 7-16 years old in Wenzhou]. Zhonghua Liu Xing Bing Xue Za Zhi Zhonghua Liuxingbingxue Zazhi. 2004;25(9):745-747. PMID: 15555352.
[4] Yang J, Hirsch L, Martino D, Jette N, Roberts J, Pringsheim T. The prevalence of diagnosed tourette syndrome in Canada: A national population-based study. Mov Disord Off J Mov Disord Soc. 2016;31(11):1658-1663. DOI: 10.1002/mds.26766
[5] Robertson MM, Eapen V, Cavanna AE. The international prevalence, epidemiology, and clinical phenomenology of Tourette syndrome: a cross-cultural perspective. J Psychosom Res. 2009;67(6):475-483. DOI: 10.1016/j.jpsychores.2009.07.010
[6] Himle MB, Capriotti MR, Hayes LP, et al. Variables Associated With Tic Exacerbation in Children With Chronic Tic Disorders. Behav Modif. 2014;38(2):163-183.
[7] Leckman JF, Riddle MA, Hardin MT, Ort SI, Swartz KL, Stevenson J, Cohen DJ. The Yale Global Tic Severity Scale: initial testing of a clinician-rated scale of tic severity. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry. 1989 Jul;28(4):566-73. DOI: 10.1177/0145445514531016
[8] Knight T, Steeves T, Day L, Lowerison M, Jette N, Pringsheim T. Prevalence of tic disorders: a systematic review and meta-analysis. Pediatr Neurol. 2012 Aug;47(2):77-90. DOI: 10.1016/j.pediatrneurol.2012.05.002
[9] Bloch MH, Leckman JF. Clinical course of Tourette syndrome. J Psychosom Res. 2009;67(6):497-501. DOI: 10.1016/j.jpsychores.2009.09.002
[10] Jankovic J. PHENOMENOLOGY AND CLASSIFICATION OF TICS. Neurol Clin. 1997;15(2):267-275. DOI: 10.1016/s0733-8619(05)70311-x
[11] Cohen SC, Leckman JF, Bloch MH. Clinical assessment of Tourette syndrome and tic disorders. Neurosci Biobehav Rev. 2013 Jul;37(6):997-1007.
[12] Jung Y-W, Park T-W. Environmental Risk Factors in Tic Disorders. Korean Academy of Child and Adolescent Psychiatry; 2010. p. 133–40. DOI: 10.1016/j.neubiorev.2012.11.013
[13] Szejko N, Robinson S, Hartmann A, et al. European clinical guidelines for Tourette syndrome and other tic disorders-version 2.0. Part I: assessment. Eur Child Adolesc Psychiatry. 2022;31(3):383-402. DOI: 10.1007/s00787-021-01842-2
[14] Sambrani T, Jakubovski E, Müller-Vahl KR. New Insights into Clinical Characteristics of Gilles de la Tourette Syndrome: Findings in 1032 Patients from a Single German Center. Front Neurosci. 2016 Sep 12;10:415. DOI: 10.3389/fnins.2016.00415
[15] Richer F, Daghfal R, Rouleau GA, Lespérance P, Chouinard S. Clinical features associated with an early onset in chronic tic disorders. Psychiatry Res. 2015 Dec 30;230(3):745-8. DOI: 10.1016/j.psychres.2015.11.018
[16] Bloch MH, Peterson BS, Scahill L, et al. Meta-analysis of the treatment of ADHD in children with comorbid tic disorders. J Am Acad Child Adolesc Psychiatry. 2009;48(9):884–893. DOI: 10.1097/CHI.0b013e3181b26e9f