ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ TỈ LỆ RỐI LOẠN TÂM THẦN KÈM THEO Ở TRẺ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý TẠI KHOA TÂM THẦN, BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Thị Nhất Nam1, Cao Vũ Hùng2, Thành Ngọc Minh2, Lê Thị Kim Dung2, Nguyễn Thế Tài2
1 Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên
2 Bệnh viện Nhi Trung ương

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ từ 6 đến 12 tuổi điều trị ngoại trú tại khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2024 - 2025.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 110 trẻ tăng động giảm chú ý được khám và chẩn đoán lần đầu theo tiêu chuẩn DSM - 5 tại phòng khám khoa Tâm thần, Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2024 - 2025.


Kết quả: Tuổi trung bình là 7,97 ± 1,4, trẻ nam chiếm 82,7%; nữ chiếm 17,3%, tỉ lệ nam/ nữ: 4,8/ 1. Lý do khiến gia đình đưa trẻ đến khám nhiều nhất là học kém tập trung (50,9%), nghịch nhiều (40,9%). Các triệu chứng thường gặp bao gồm: không chú ý vào chi tiết hoặc mắc lỗi cẩu thả với công việc (92,7%); cựa quậy chân tay hoặc vặn vẹo, ngồi không yên (92,7%); dễ bị sao nhãng bởi kích thích bên ngoài (91,8%). Thể phối hợp chiếm tỉ lệ cao nhất (74,5%), sau đó là thể giảm chú ý (17,3%), thể tăng động (8,2%). Có 53/ 110 trẻ (48,2%) mắc ít nhất 1 rối loạn tâm thần khác kèm theo, trong đó kèm theo rối loạn thách thức chống đối chiếm 35,5%, rối loạn lo âu và rối loạn giấc ngủ chiếm 10%, rối loạn hành vi chiếm 4,5%.


Kết luận: Tăng động giảm chú ý thường gặp ở trẻ nam, chủ yếu là thể phối hợp, triệu chứng thường gặp nhất là trẻ không chú ý vào chi tiết, cựa quậy chân tay, kèm theo các rối loạn tâm thần khác như rối loạn thách thức chống đối (35,5%), rối loạn hành vi, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Nader Salari, Hooman Ghasemi, Nasrin Abdoli & at, E. The global prevalence of ADHD in children and adolescents: a systematic review and meta-analysis. Italian journal of pediatrics 49, 48, doi:10.1186/s13052-023-01456-1 (2023).
[2] Bùi Quang Huy. in Rối loạn tâm thần ở trẻ em Ch. Rối loạn tăng động giảm chú ý, 73-87 (Nhà xuất bản Y học, 2022).
[3] Trần Nguyễn Ngọc, Dương Minh Tâm & Thực trạng rối loạn tăng động giảm chú ý tại khoa Tâm thần bệnh viện Nhi Trung ương Tạp chí y học Việt Nam 510, 153 - 158, doi:10.51298/vmj.v510i2.1993 (2022).
[4] Thành Ngọc Minh. Đặc điểm rối loạn tăng động giảm chú ý và một số rối loạn tâm thần phối hợp ở trẻ 6-14 tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi trung ương Luận văn Bác sĩ chuyên khoa cấp II thesis, Trường Đại học Y Hà Nội, (2016).
[5] Njardvik U, Wergeland GJ, Riise EN, Hannesdottir DK & Öst LG. Psychiatric comorbidity in children and adolescents with ADHD: A systematic review and meta-analysis. Clinical psychology review 118, 102571, doi:10.1016/j.cpr.2025.102571 (2025).
[6] Hai Huu Hoang et al. Attention Deficit Hyperactivity Disorder (ADHD) and Associated Factors Among First-Year Elementary School Students. Journal of multidisciplinary healthcare 14, 997-1005, doi:10.2147/jmdh.S301091 (2021).
[7] Rachael Knott et al. Age at diagnosis and diagnostic delay across attention-deficit hyperactivity and autism spectrums. The Australian and New Zealand journal of psychiatry 58, 142-151, doi:10.1177/00048674231206997 (2024).
[8] Trần Xuân Ngọc. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tăng động giảm chú ý ở trẻ em từ 6 - 11 tuổi tại phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh Chuyên khoa cấp II thesis, Đại học Y Hà Nội, (2019).
[9] Đỗ Thuỳ Dung. Đặc điểm lâm sàng tăng động ở trẻ tăng động giảm chú ý Luận văn Thạc sĩ y học thesis, Trường Đại học Y Hà Nội, (2019).