ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NHIỄM KHUẨN CỦA MÔ XƯƠNG SỌ BẢO QUẢN TẠI NGÂN HÀNG MÔ BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC

Nguyễn Văn Chỉnh1, Trần Thị Hằng1, Đỗ Thanh Hòa1, Dương Công Nguyên1, Nguyễn Thị Điểm1, Hà Văn Phú1, Trần Thị Thanh Huyền1, Nguyễn Thu Hạnh1, Hoàng Minh Anh2
1 Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
2 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tình hình nhiễm khuẩn và đặc điểm vi khuẩn phân lập được trên mô xương sọ bảo quản.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu 1162 mẫu mô xương sọ được lựa chọn ngẫu nhiên từ các mô được bảo quản tại ngân hàng mô Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.


Kết quả: 1162 bệnh nhân bao gồm 898 nam (77,28%), 264 nữ (22,72%); 1067 trường hợp (91,82%) có nguyên nhân mở hộp sọ do chấn thương sọ não. Tỉ lệ nhiễm khuẩn giai đoạn trước chiếu xạ là 4,56%; sau chiếu xạ là 0,17%. Các chủng vi khuẩn thường gặp là Staphylococcus aureus (15,52%), Staphylococcus epidermidis (15,52%) và Pseudomonas aeruginosa (13,79%). Mảnh xương nhiều cân cơ, máu tụ, vỡ giập có tỉ lệ nhiễm khuẩn (7,65%) cao hơn nhóm có mảnh xương sạch (4,38%). Tỉ lệ nhiễm khuẩn theo thời gian vận chuyển trong ngày (≤ 24 giờ) là 1,88%; từ 1-2 ngày là 4,72%, từ 3-7 ngày là 7,65% và trên 7 ngày là 6,52%. Mẫu ngoại viện có tỉ lệ nhiễm khuẩn (9,38%) cao hơn mẫu nội viện (0,48%) (p < 0,01).


Kết luận: Tỉ lệ nhiễm khuẩn trước chiếu xạ là 4,56%, tỉ lệ nhiễm khuẩn sau chiếu xạ 0,17%. S.aureus, S.epidermidisP.aeruginosa là các chủng vi khuẩn thường gặp. Quá trình thu nhận, xử lý và bảo quản mô xương sọ có nhiều yếu tố như nhiều máu tụ, cân cơ; thời gian chờ xử lý; nơi thu hồi từ bệnh viện ngoài làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Bùi Thanh Thủy. Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn trước và sau xử lý, bảo quản lạnh sâu mảnh xương sọ người tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên. Tạp chí Y học Việt Nam, 2018, 472 (số đặc biệt).
[2] Schmidt A.H. Autologous bone graft: Is it still the gold standard? Injury, 2021, 52: S18-S22. doi: 10.1016/j. injury.2021.01.043.
[3] Quách Thị Yến. Thực trạng bảo quản lạnh sâu mảnh xương sọ để ghép tự thân tại labo bảo quản mô, Trường Đại học Y Hà Nội từ 2002-2010. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2010.
[4] Nguyễn Thị Thúy Hằng. Khảo sát tình trạng nhiễm khuẩn của các mảnh xương sọ trước bảo quản lạnh sâu. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa, Trường Đại học Y Hà Nội, 2007.
[5] Singh R et al. Radiation sterilization of tissue allografts: A review. World J Radiol, 2016, 8 (4): 355-369. doi: 10.4329/wjr.v8.i4.355.
[6] Đỗ Đình Tiệp. Khảo sát tình trạng các mảnh xương sọ vỡ nhiều mảnh bảo quản lạnh sâu tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản và công nghệ mô ghép, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2021, 503 (số đặc biệt 2): 188-193.
[7] Chiang H.Y et al. Clinical significance of positive cranial bone flap cultures and associated risk of surgical site infection after craniotomies or craniectomies. J Neurosurg, 2011, 114 (6): 1746-1754. doi: 10.3171/2011.1.JNS10782.
[8] O’Donnell S et al. Bone flap infections after craniotomy: a review of 63 cases and the implications for definitions, classification and surveillance methodologies. J Hosp Infect, 2023, 136: 14-19. doi: 10.1016/j.jhin.2023.03.019.