VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM TIM CẢN ÂM TRONG CHẤN ĐOÁN LỖ BẦU DỤC (PFO) Ở NGƯỜI BỆNH NHỒI MÁU NÃO

Vũ Mạnh Thắng1, Nguyễn Minh Hùng1, Mai Duy Tôn2,3,4, Nguyễn Thị Thu Hoài1, Giáp Thị Minh Nguyệt1, Lưu Thị Bích Đào1, Phạm Mạnh Hùng5
1 Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai
2 Trung tâm Đột Qụy, Bệnh viện Bạch Mai
3 Đại học Y Hà Nội
4 Đại học Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội
5 Bộ môn Tim mạch, trường Đại học Y Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá vai trò của siêu âm tim cản âm qua thành ngực với chất cản âm tự tạo so với siêu âm tim qua thực quản trong chẩn đoán shunt phải-trái do tồn tại lỗ bầu dục (PFO) còn mở.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 51 người bệnh nhập viện vì nhồi máu não. Tất cả bệnh nhân đều được thực hiện siêu âm tim cản âm qua thành ngực (cTTE) và siêu âm tim cản âm qua thực quản (cTEE) với chất cản âm tự tạo.


Kết quả: PFO được phát hiện ở 17 người bệnh (33,3%) trên cTTE so với 18 trường hợp (35%) phát hiện trên cTEE (χ2= 0,5; p≈1) sự khác biệt giữa 2 phương pháp là không có ý nghĩa thống kê. So với cTEE thì cTTE đã phát hiện được 94,4% trường hợp có PFO cho thấy sự phù hợp cao giữa hai phương pháp trong việc nhận diện PFO (Kappa=0.9). Hơn nữa, cTTE có ưu thế hơn trong việc đánh giá mức độ shunt phải-trái qua PFO đặc biệt là shunt mức độ lớn khi so sánh với cTEE (Z=-2,053, P = 0,04). Không có phản ứng bất lợi nào được phát hiện trong quá trình thực hiện cTEE và cTTE với chất cản âm tự tạo.


Kết luận: cTTE với chất cản âm tự tạo là phương pháp đơn giản, không xâm lấn, chi phí thấp, phù hợp để phát hiện và chẩn đoán PFO.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Rathburn, C.M., K.T. Mun, L.K. Sharma, and J.L. Saver, TOAST stroke subtype classification in clinical practice: implications for the Get With The Guidelines-Stroke nationwide registry. Frontiers in neurology, 2024. 15: p. 1375547.https://doi.org/10.3389/fneur.2024.1375547
[2] Xu, K., et al., Diagnostic value of contrast-enhanced ultrasonography for patent foramen ovale detection. Journal of Thoracic Disease, 2024. 16(5): p. 3282.https://doi.org/10.21037/jtd-24-330
[3] Yang, X., et al., Diagnosis of patent foramen ovale: the combination of contrast transcranial Doppler, contrast transthoracic echocardiography, and contrast transesophageal echocardiography. BioMed Research International, 2020. 2020(1): p. 8701759.https://doi.org/10.1155/2020/8701759
[4] Chaturvedi, A., et al., Comparative evaluation of intracardiac, transesophageal, and transthoracic echocardiography in the assessment of patent foramen ovale: A retrospective single‐center study. Catheterization and Cardiovascular Interventions, 2023. 102(7): p. 1348-1356.https://doi.org/10.1002/ccd.30825
[5] Choi, J., et al., Characteristics and prognosis of patients with cryptogenic stroke and suggestive of patent foramen ovale. Cardiovascular Ultrasound, 2021. 19(1): p. 20.https://doi.org/10.1186/s12947-021-00255-0
[6] He, J.-C., et al., Transthoracic contrast echocardiography using vitamin B6 and sodium bicarbonate as contrast agents for the diagnosis of patent foramen ovale. The International Journal of Cardiovascular Imaging, 2017. 33(8): p. 1125-1131.https://doi.org/10.1007/s10554-017-1088-0
[7] Zhang, H., et al., The Value of Contrast‐Enhanced Transesophageal Echocardiography in the Detection of Cardiac Right‐to‐Left Shunt Related With Cryptogenic Stroke and Migraine. BioMed Research International, 2020. 2020(1): p. 8845652.https://doi.org/10.1155/2020/8845652
[8] Yue, L., Y. Zhai, and L. Wei, Which technique is better for detection of right-to-left shunt in patients with patent foramen ovale: comparing contrast transthoracic echocardiography with contrast transesophageal echocardiography. Echocardiography (Mount Kisco, NY), 2014. 31(9): p. 1050-1055.https://doi.org/10.1111/echo.12523
[9] Lee, M. and J.H. Oh, Echocardiographic diagnosis of right-to-left shunt using transoesophageal and transthoracic echocardiography. Open Heart, 2020. 7(2).https://doi.org/10.1136/openhrt-2019-001150