SO SÁNH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG CHUYỂN DẠ CỦA CÁC PHÁC ĐỒ CÀI ĐẶT BƠM TIÊM ĐIỆN KHI GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG DO SẢN PHỤ TỰ ĐIỀU KHIỂN (PCEA)
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của ba phác đồ cài đặt bơm tiêm điện khi gây tê ngoài màng cứng do sản phụ tự điều khiển (PCEA) .
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang, thực hiện từ 10/2024- 9/2025, tại Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa. 90 sản phụ con so được chia làm ba nhóm: Nhóm A: Tiêm bolus 3ml hỗn hợp thuốc giảm đau, thời gian khóa 6 phút. Nhóm B Tiêm bolus 6ml hỗn hợp thuốc giảm đau, thời gian khóa 12 phút. Nhóm C: Tiêm bolus 9ml hỗn hợp thuốc giảm đau, thời gian khóa 18 phút. Cả 3 nhóm có liều nền là 3ml/h, liều tối đa 80ml/ 4h. Thuốc tê sử dụng là: levobupivacain 0,1% và fentanyl 2µg/ml.
Kết quả: Thời gian khởi phác tác dụng giảm đau ở nhóm A chậm hơn nhóm B và C. Tỉ lệ sử dụng sử dụng liều cứu giảm đau của nhóm C thấp nhất. Điểm đau (VAS) duy trì trong suốt quá trình giảm đau trong đẻ đều nhỏ hơn 4 ở các giai đoạn chuyển dạ ở cả 3 nhóm. Nhóm C có tỷ lệ ức chế vận động cao hơn hai nhóm còn lại. 100% sản phụ ở cả 3 nhóm đều hài lòng và rất hài lòng về giảm đau trong quá trình chuyển dạ.
Kết luận: Phác đồ cài đặt bơm tiêm điện trong PCEA (levobupivacain 0,1% và fentanyl 2µg/ml), có hiệu quả giảm đau tốt và không ảnh hưởng vận động của sản phụ là: Tiêm bolus 6ml mỗi lần sản phụ bấm nút điều khiển, thời gian khóa 12 phút, liều nền là 3ml/h và nhóm tiêm bolus 9ml thời gian khóa 18 phút liều nền 3ml/h.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Giảm đau trong đẻ, giảm đau bệnh nhân tự kiểm soát, gây tê ngoài màng cứng
Tài liệu tham khảo
[2] Kodali B.S. và Segal S. (2023). Non Pharmacological Methods for Relief of Labor Pain. Datta’s Obstetric Anesthesia Handbook. Springer International Publishing, Cham, 95–104.
[3] Bremerich DH1, Waibel HJ, Mierdl S, et al (2005). Comparison of continuous background infusion plus demand dose and demand-only parturient-controlled epidural analgesia (PCEA) using ropivacaine combined with sufentanil for labor and delivery. Int J Obstet Anesth. Apr; 14(2):114-20.
[4] Puthenveettil N, Mohan A, Rajan S, Paul J, Kumar L. Labor Epidural Analgesia: Comparison of Two Different Intermittent Bolus Regimes. Anesth Essays Res. 2018 Oct-Dec;12(4):832-836. doi: 10.4103/aer.AER_144_18. PMID: 30662116; PMCID: PMC6319071.
[5] Phạm Hòa Hưng (2017), Đánh giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ đẻ của gây tê ngoài màng cứng của levobupivacain hoặc ropivacain phối hợp với fentanyl, Luận văn thạc sĩ y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội.
[6] Trần Văn Quang (2011), Đánh giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ đẻ bằng gây tê ngoài màng cứng levobupivacain phối hợp với Fentanyl ở các nồng độ và liều lượng khác nhau, Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
[7] Đỗ Văn Lợi (2017), “Nghiên cứu hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của phương pháp gây tê ngoài màng cứng do bệnh nhân tự điều khiển”, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội.
[8] Siddik-Sayyid SM, Aouad MT, Jalbout MI, Zalaket MI, Mouallem MR, Massouh FM, Rizk LB, Maarouf HH, Baraka AS. Comparison of three modes of patient-controlled epidural analgesia during labour. Eur J Anaesthesiol. 2005 Jan;22(1):30-4. doi: 10.1017/s0265021505000074. PMID: 15816570.