ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CAN THIỆP NỘI MẠCH TÁI TẠO CHỖ CHIA ĐÔI ĐỘNG MẠCH CHỦ BẰNG STENT PHỦ TRONG ĐIỀU TRỊ TẮC ĐỘNG MẠCH CHỦ-CHẬU MẠN TÍNH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả kỹ thuật tái tạo chỗ chia đôi động mạch chủ bằng stent phủ qua đường nội mạch trong điều trị bệnh tắc hẹp động mạch chủ-chậu mạn tính tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu mô tả loạt ca trên 36 bệnh nhân được điều trị bằng kỹ thuật tái tạo chỗ chia đôi động mạch chủ bằng stent phủ cho tắc hẹp động mạch chủ-chậu mạn tính. Thu thập các dữ liệu nhân khẩu học, đặc điểm lâm sàng và đặc điểm tổn thương trên chụp hình ảnh học. Theo dõi bao gồm đánh giá lâm sàng, siêu âm Doppler và chỉ số cổ chân-cánh tay. Thực hiện can thiệp nội mạch sử dụng stent phủ để tái tạo tổn thương tắc hẹp chỗ chia đôi động mạch chủ-chậu. Đánh giá tỷ lệ tái thông và tái can thiệp sang thương đích trong quá trình theo dõi bệnh.
Kết quả: Trong 36 bệnh nhân, 77,8% được chẩn đoán đau cách hồi và 22,2% bị thiếu máu chi nghiêm trọng. Đa số (83,3%) là tổn thương TASC II D, phần còn lại là tổn thương B và C (mỗi loại 8,3%). Thời gian theo dõi trung bình là 12 tháng. Tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật là 91,7%. Chỉ số cổ chân-cánh tay cải thiện đáng kể từ 0,55 ± 0,24 trước phẫu thuật lên 0,84 ± 0,17 sau thủ thuật. Tỷ lệ biến chứng nhẹ trong 30 ngày là 16.6% và không có biến chứng nặng. Thời gian nằm viện trung bình là 4 ngày. Tại thời điểm theo dõi 6 tháng và 1 năm, 91,6% và 94,4% bệnh nhân cải thiện ít nhất một độ Rutherford về mặt lâm sàng. Tỷ lệ tái thông nguyên phát và tái thông thứ phát lần lượt là 86,1% và 88,9% sau 1 năm. Tỷ lệ không cần tái can thiệp sang thương đích do chỉ định lâm sàng là 83,3% sau 1 năm theo dõi.
Kết luận: Can thiệp tái tạo chỗ chia đôi động mạch chủ bằng stent phủ qua đường nội mạch là một kỹ thuật an toàn và khả thi để điều trị tắc hẹp động mạch chủ-chậu mạn tính với kết quả tốt sau 1 năm cả về tỷ lệ tái thông và cải thiện lâm sàng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Bệnh tắc hẹp động mạch chủ-chậu mạn tính, can thiệp nội mạch, stent phủ.
Tài liệu tham khảo
[2] Jebbink E.G, Holewijn S et al. Systematic review of results of kissing stents in the treatment of aortoiliac occlusive disease. Annals of Vascular Surgery, 2017, 42: 328-336. doi: 10.1016/j.avsg.2017.01.009.
[3] Al-Hakim R, Lee E.W et al. Hemodynamic analysis of edge stenosis in peripheral artery stent grafts. Diagnostic and Interventional Imaging, 2017, 98 (10): 729-735. doi: 10.1016/j.diii.2017.01.011.
[4] Taeymans K, Jebbink E.G et al. Three-year outcome of the covered endovascular reconstruction of the aortic bifurcation technique for aortoiliac occlusive disease. Journal of Vascular Surgery, 2018, 67 (5): 1438-1447. doi: 10.1016/j.jvs.2017.09.015.
[5] Dikmen N, Ozcinar E et al. The long-term results of covered endovascular aortic bifurcation repair in complex aortoiliac disease: a two-year follow-up. Journal of Clinical Medicine, 2024, 13 (19): 5684. doi: 10.3390/jcm13195684.
[6] Grimme F.A.B, Goverde P.C.J.M et al. Editor’s choice-first results of the covered endovascular reconstruction of the aortic bifurcation (CERAB) technique for aortoiliac occlusive disease. European Journal of Vascular and Endovascular Surgery, 2015, 50 (5): 638-647. doi: 10.1016/j.ejvs.2015.06.112.
[7] De Vries S.O, Hunink M.G. Results of aortic bifurcation grafts for aortoiliac occlusive disease: a meta-analysis. J Vasc Surg, 1997, 26 (4): 558-569. doi: 10.1016/s0741-5214(97)70053-3.
[8] Salem M, Hosny M.S, Francia F et al. Management of extensive aorto-iliac disease: a systematic review and meta-analysis of 9319 patients. Cardiovasc Intervent Radiol, 2021, 44 (10): 1518-1535. doi: 10.1007/s00270-021-02785-6.