BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI CỔ TỬ CUNG TRÊN THAI PHỤ NGUY CƠ CAO SINH NON TRƯỚC 34 TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

Lê Quang Hòa1, Mai Trọng Hưng1,2, Trương Quang Vinh2, Phạm Đức Anh2, Đỗ Xuân Hai2
1 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
2 Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mô tả biến đổi hình thái cổ tử cung (chữ T, chữ Y) bằng siêu âm đường âm đạo ở thai phụ có nguy cơ cao sinh non và xác định giá trị tiên lượng sinh non dựa trên các biến đổi này.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu được thực hiện trên 182 thai phụ có nguy cơ cao sinh non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 06 năm 2024 đến tháng 08 năm 2025. Tổng cộng 1227 lần siêu âm đường âm đạo được thực hiện định kỳ từ tuần 16 đến tuần 34 của thai kỳ. Các thông số đo đạc bao gồm chiều dài CTC, hình thái lỗ trong CTC (chữ T, Y), chiều dài chức năng CTC và độ mở lỗ trong. Dữ liệu được phân tích thống kê để xác định các ngưỡng giá trị tiên lượng sinh non.


Kết quả: Tỷ lệ sinh non trong nhóm nghiên cứu là 18,1%. Hình thái CTC chữ T chiếm 80,4%, chữ Y chiếm 19,6%. Chiều dài CTC trung bình là 33,0±3,6 mm và giảm dần theo tuổi thai, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm sinh non < 34 tuần và sinh ≥ 34 tuần. Ở thai phụ có biến đổi hình thái CTC (chữ Y), chiều dài chức năng CTC ngắn hơn đáng kể. Giá trị tiên lượng sinh non của chiều dài cổ tử cung thay đổi theo tuổi thai và hình thái cổ tử cung. Độ dài CTC với CTC hình chữ T có giá trị tiên lượng không cao. Tuy nhiên, chiều dài chức năng CTC khi có hình thái chữ Y cho thấy giá trị tiên lượng cao ở các tuổi thai: tại 22-24 tuần, điểm cắt tối ưu là ≤ 33 mm (độ nhạy 84,62%, độ đặc hiệu 83,33%); tại 25-27 tuần là ≤ 28 mm (độ nhạy 76,47%, độ đặc hiệu 72,00%); tại 28-30 tuần là ≤ 26 mm (độ nhạy 62,07%, độ đặc hiệu 83,58%); tại 31-34 tuần là ≤ 25 mm (độ nhạy 85,71%, độ đặc hiệu 54,69%).


Kết luận: Siêu âm hình thái cổ tử cung qua đường âm đạo là một phương pháp hiệu quả và có giá trị cao trong việc tiên lượng nguy cơ sinh non ở thai phụ có nguy cơ cao. Biến đổi hình thái CTC từ chữ T sang chữ Y với chiều dài chức năng ngắn là dấu hiệu sớm quan trọng giúp đưa ra các quyết định can thiệp kịp thời và hiệu quả.


 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] World Health Organization. (2015). Born too soon: the global action report on preterm birth. World Health Organization.
[2] O’Hara SM, Zelesco MD, Sun Z. Cervical length for predicting preterm birth and a comparison of ultrasonic measurement techniques. Australas J Ultrasound Med. 2013;16(3):124–34. DOI: 10.1002/j.2205-0140.2013.tb00100.x
[3] Habashy AE, et al. Comparison between static and dynamic cervical assessment in preventing preterm birth. Int J Reprod Contracept Obstet Gynecol. 2022;11(11):2954–62.
[4] Nguyễn Đình Vũ, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang. Vai trò của siêu âm ngả âm đạo đo chiều dài cổ tử cung để tiên lượng sanh non ở bệnh nhân dọa sanh non. TCYHTPHCM. 2012;16(1):270–270.
[5] Chmait RH, et al. Cervical funneling is more predictive of preterm birth than cervical length alone in nulliparous women. Am J Obstet Gynecol. 2023;228:S722–23.
[6] Vũ Bá Quyết, Nguyễn Xuân Hợi, Đào Thị Hoa, Đinh Bích Thủy, Nguyễn Thị Huyền Linh. Khảo sát độ dài cổ tử cung ở 3500 thai phụ có tuổi thai từ 19–23 tuần 6 ngày bằng siêu âm qua đường âm đạo.Tạp chí Y học Việt Nam. 2021;501(1). DOI: https://doi.org/10.51298/vmj.v501i1.454
[7] Nguyen THT, Vu VT, Nguyen VQH. Distribution of uterocervical angles of pregnant women at 16+0 to 23+6 weeks gestation with low risk for preterm birth: first Vietnamese cohort. BMC Pregnancy Childbirth. 2023;23:301.
[8] Nguyen TTH, Vu VT, Nguyen VQH. Uterocervical angle and cervical length measurements for spontaneous preterm birth prediction in low-risk singleton pregnant women. Arch Gynecol Obstet. 2024;310:1611–19. DOI: 10.1007/s00404-024-07646-4