34. ĐÁNH GIÁ ĐỘ BIẾN THIÊN NỒNG ĐỘ TACROLIMUS TRÊN BỆNH NHÂN HẬU GHÉP THẬN GIAI ĐOẠN DUY TRÌ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mai Thị Bích Chi1, Lê Chí Công1, Huỳnh Ngọc Phương Thảo1,2, Phạm Thị Phương1, Nguyễn Trung Ngân1, Trịnh Thị Ngọc Ái3, Thái Hữu Khoa3, Nguyễn Thị Băng Sương1,2
1 Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
2 Đại học Y Dược TP.HCM
3 Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định độ biến thiên nội cá thể của nồng độ tacrolimus ở BN ghép thận (IPV%) và mối tương quan giữa IPV% với chức năng thận sau ghép tại 4 giai đoạn 0-6 tháng; 6 – 12 tháng; 12 – 24 tháng; > 24 tháng.


Đối tượng – phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang109 BN hậu ghép thận từ 2020 – 2024 đang theo dõi điều trị tại phòng khám Nội thận – Thận nhân tạo.


Kết quả: 109 BN ghép thận có độ tuổi là 43,3 ± 10,9; tỷ lệ nam là 63,3%; thời gian theo dõi trung bình là 39 ± 15,5 tháng. Tỷ lệ đạt nồng độ khuyến cáo trong 6 tháng đầu là 77,1%; từ 12 tháng trở lên là 75,2%. IPV% dao động chủ yếu ở mức 20-25% ở cả 4 giai đoạn theo dõi; giá trị IPV% cao nhất là 50%. Ở giai đoạn sau 12 tháng, chỉ số IPV% có mối tương quan nghịch, mức độ chặt chẽ với độ lọc cầu thận eGFR với r = -0,7 (p < 0,05).


Kết luận: Độ biến thiên nội cá thể ở BN ghép thận dao động chủ yếu trong khoảng 20–25% ở cả 4 giai đoạn theo dõi. Có mối tương quan nghịch với r = -0,7 (p < 0,05) giữa IPV% và độ lọc cầu thận eGFR từ sau 12 tháng ghép thận.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Bia, M., Adey, D. B., Bloom, R. D., Chan, L., Kulkarni, et al (2010). KDOQI US commentary on the 2009 KDIGO clinical practice guideline for the care of kidney transplant recipients. American Journal of Kidney Diseases, 56(2), 189-218.
[2] Van Anh, T. N., Le, T. V., Van Bui, M., et al (2020). Tacrolimus Therapeutic Drug Monitoring in Vietnamese Renal Transplant Recipients. Pharmacognosy Journal, 12(5).
[3] Keovithoun Viboun, Nguyễn Trung Kiên và cộng sự (2023). Nhận xét nồng độ đáy của tacrolimus tháng thứ 12 ở người bệnh ghép thận tại Bệnh Viện Quân Y 103. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 48(6), 70-77.
[4] Cong LC, Thuy NT, Truong ND, Thu BTH, et al.(2023) Experience of Tacrolimus Usage in Kidney Transplant Vietnamese Patients. J Med Assoc Thai;106:795-801.
[5] Garcia, G. G., Harden, P., & Chapman, J. (2012). The global role of kidney transplantation. The Lancet, 379(9820), e36-e38.
[6] Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Duy Thức, và cộng sự (2023). Phân tích kết quả giám sát nồng độ tacrolimus trong máu trên bệnh nhân sau ghép gan tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Tạp chí Y học Việt Nam, 522(1).
[7] Nevins, T. E., Nickerson, P. W., & Dew, M. A. (2017). Understanding medication nonadherence after kidney transplant. Journal of the American Society of Nephrology: JASN, 28(8), 2290.
[8] Shuker, N., Shuker, L., van Rosmalen, et al (2016). A high intrapatient variability in tacrolimus exposure is associated with poor long‐term outcome of kidney transplantation. Transplant international, 29(11), 1158-1167.