11. GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA XÉT NGHIỆM KHÁNG THỂ KHÁNG NHÂN HUYẾT THANH BẰNG KỸ THUẬT MIỄN DỊCH HUỲNH QUANG GIÁN TIẾP VÀ XÉT NGHIỆM TỰ KHÁNG THỂ ĐẶC HIỆU BẰNG KỸ THUẬT IMMUNOBLOT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY

Lê Thị Na1, Phạm Thị Thuận1, Nguyễn Thị Thúy Hằng1, Trần Quỳnh Trang1, Trương Công Duẩn1
1 Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định giá trị chẩn đoán của ANA bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp và tự kháng thể đặc hiệu bằng kỹ thuật miễn dịch thanh giấy thấm trong chẩn đoán các bệnh tự miễn.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2024 tại khoa Xét nghiệm bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City. Đối tượng nghiên cứu: 530 người bệnh được chỉ định xét nghiệm ANA huyết thanh bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp trong đó có 177 mẫu được chỉ định xét nghiệm ANA 23 Profile trên máy EUROBloteONE. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang, hồi cứu. Sử dụng mẫu huyết thanh người bệnh làm xét nghiệm.


Kết quả: Trong số 530 người bệnh xét nghiệm ANA miễn dịch huỳnh quang gián tiếp tỷ lệ dương tính chung là 43%, tỷ lệ nữ 58,7%. Có 10 nhóm bệnh được chỉ định, bệnh lý hệ thống có chỉ định nhiều nhất. Tỷ lệ dương tính với ANA 23 profile tăng theo mức độ bắt màu huỳnh quang. Kiểu bắt màu huỳnh quang hay gặp nhất là specked và homogeneous. Với xét nghiệm ANA 23 profile kiểu bắt màu homogeneous chủ yếu là Ds DNA, nucleosome, histones, kiểu bắt màu speckled chủ yếu là SS-A, Ro-52, SS-B.


Kết luận: Xét nghiệm kháng thể kháng nhân bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang có giá trị trong chẩn đoán bệnh tự miễn, có thể mở rộng trong trường hợp bệnh lý các cơ quan không giải thích được nguyên nhân và xét nghiệm ANA 23 profile được chỉ định để xác định chính xác các tự kháng thể. Hai xét nghiệm này bổ sung cho nhau trong sàng lọc, chẩn đoán bệnh.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1]. Nguyễn Hoàng Bắc. Khảo sát một số tự kháng thể thường gặp trong bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Vietnam Medical Journal No 2- April- 2023.
[2]. Nguyễn Hoàng Phương. So sánh giá trị chẩn đoán của xét nghiệm kháng thể kháng nhân bằng kỹ thuật Elisa và miễn dịch huỳnh quang gián tiếp trong các bệnh lý tự miễn. Vietnam Medical Journal No 3- August- 2024:360-363.
[3]. Wei Q, Jiang Y, Xie J, Lv Q, Xie Y, Tu L, et al. Analysis of antinuclear antibody titers and patterns by using HEp‐2 and primate liver tissue substrate indirect immunofluorescence assay in patients with systemic autoimmune rheumatic diseases. J Clin Lab Anal. 2020 Oct 13;34:e23546.
[4]. Phạm Thị Chúc. Kết quả xét nghiệm tìm kháng thể kháng nhân bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp trên tế bào Hep-2 tại bệnh viện Da liễu trung ương [Khóa luận tốt nghiệp bác sỹ đa khoa]. Đại học Y Hà Nội; 2015.
[5]. Lee SA, Kahng J, Kim Y, Park Y, Han K, Kwok S, et al. Comparative Study of Immunofluorescent Antinuclear Antibody Test and Line Immunoassay Detecting 15 Specific Autoantibodies in Patients With Systemic Rheumatic Disease. J Clin Lab Anal. 2012 Jul 18;26(4):307–14.
[6]. Petri M, Orbai AM, Alarcón GS, Gordon C, Merrill JT, Fortin PR, et al. Derivation and Validation of Systemic Lupus International Collaborating Clinics Classification Criteria for Systemic Lupus Erythematosus. Arthritis Rheum. 2012 Aug;64(8):2677–86.
[7]. Shiboski CH, Shiboski SC, Seror R, Criswell LA, Labetoulle M, Lietman TM, et al. 2016 ACR-EULAR Classification Criteria for primary Sjögren’s Syndrome: A Consensus and Data-Driven Methodology Involving Three International Patient Cohorts. Arthritis & rheumatology (Hoboken, NJ). 2017 Jan;69(1):35.
[8]. Betteridge Z, McHugh N. Myositis-specific autoantibodies: an important tool to support diagnosis of myositis. J Intern Med. 2016 Jul;280(1):8–23.