A STUDY OF CLINICAL AND PARACLINICAL FEATURES AND MODE OF DELIVERY OF PRETERM LABOR IN PREGNANT WOMEN
Main Article Content
Abstract
Objectives: To describe the clinical and paraclinical characteristics and evaluate the methods of pregnancy termination in pregnant women with preterm labor at Binh Duong General Hospital from July 2025 to February 2026.
Subjects and methods: A prospective, descriptive cross-sectional study with analysis.
Results: The average age of pregnant women in the study group was 26.14 ± 8.06 years, with the youngest being 15 years and the oldest 42 years. The majority of pregnant women lived in rural areas (96.67%), and had one child (57.78%). 25.56% of pregnant women worked more than 8 hours/day; and 35.55% had a BMI ≥ 23 kg/m2. The average gestational age at admission was 34.14 ± 2.45 weeks, with the youngest being 28 weeks and the oldest 36 weeks and 6 days. 48.89% of pregnant women delivered vaginally, and the rates of cesarean section and vaginal delivery were similar in both gestational age groups. The rate of admission to the neonatal intensive care unit was high (85.55%).
Conclusions: The majority of preterm births occurred at a gestational age of ≥ 34 weeks.
Article Details
Keywords
Preterm birth, cesarean section, BMI.
References
[2] Trương Thiện Tiên, Nguyễn Tấn Đạt, Nguyễn Thị Bích Thủy và cộng sự. Tình hình sinh non tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Tạp chí Phụ Sản, 2024, 22 (3): 38-43. doi: 10.46755/vjog.2024.3.1779
[3] Nguyễn Thị Thu Hà, Đỗ Tuấn Đạt, Phan Thị Huyền Thương. Kết quả điều trị các trường hợp ối vỡ non ở tuổi thai từ 24-34 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 534 (1): 1-4. doi: 10.51298/vmj.v534i1.8013
[4] Châu Huệ Mẫn, Phan Quỳnh Như, Ngô Thanh Thảo và cộng sự. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bệnh màng trong ở trẻ sơ sinh non tháng tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2021-2022. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 2023, 56: 86-93. doi: 10.58490/ctump.2023i56.504
[5] Đỗ Hoàng Yến, Bùi Thị Thủy Tiên, Phùng Nguyễn Thế Nguyên. Các yếu tố liên quan đến tử vong trẻ sơ sinh non tháng dưới 32 tuần tại Bệnh viện Hùng Vương. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 544 (2): 263-267. doi: 10.51298/vmj.v544i2.11866
[6] Lương Hoàng Thành, Đỗ Xuân Vinh, Dương Thị Thu Hà. Đặc điểm và thái độ xử trí ối vỡ non ở tuổi thai từ 28 tuần 0 ngày đến 33 tuần 6 ngày tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 539 (1B): 58-62. doi: 10.51298/vmj.v539i1B.9905
[7] Nguyễn Thị Hồng, Lục Thị Xuân, Nguyễn Thị Giang và cộng sự. Tình hình kết quả sinh non tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2020. Tạp chí Phụ Sản, 2022, 20 (3): 50-54. doi: 10.46755/vjog.2022.3.1428
[8] Đào Thị Huyền Trang, Nguyễn Mạnh Thắng. Tình hình đẻ non và các phương pháp xử trí tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Tạp chí Phụ Sản, 2018, 15 (4): 36-40. doi: 10.46755/vjog.2018.4.490
[9] Klumper J, Ravelli A.C.J, Roos C, Abu-Hanna A, Oudijk M.A. Trends in preterm birth in the Netherlands in 2011-2019: a population-based study among singletons and multiples. Acta Obstetricia et Gynecologica Scandinavica, 2024, 103 (3): 449-458. doi: 10.1111/aogs.14684
[10] Vương Thị Như Quỳnh, Mai Trọng Hưng. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của thai phụ dọa sinh non có cổ tử cung ngắn tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam, 2026, 558 (2): 26-30. doi: 10.1111/aogs.14684.