KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU SỬ DỤNG VẠT DA CẠNH VAI TỰ DO ĐỂ TÁI TẠO MÔ MỀM TỨ CHI SAU CHẤN THƯƠNG

Nguyễn Quang Vinh1, Mia Trọng Tưởng1, Võ Anh Trí1, Mai Thị Trâm Anh1
1 Khoa Vi phẫu - Tạo hình, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu điều trị mất da rộng tứ chi sau chấn thương bằng vạt da vai tự do.


Đối tượng và phương pháp: Báo cáo hàng loạt ca, tiến cứu 5 bệnh nhân trong khoảng thời gian từ tháng 3/2025 đến tháng 1/2026 tại Khoa Vi phẫu - Tạo hình, Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh.


Kết quả: Tất cả các vạt da đều sống. vị trí cho vạt đều được khâu da kín 1 thì. Thời gian theo dõi trung bình là 6 tháng. Vạt có độ dày vừa phải, có thể dùng để che phủ nhiều vùng ở bàn tay và bàn chân: 1 trường hợp ở mu tay, 1 trường hợp ở lòng bàn chân, 3 trường hợp ở mu chân. Diện tích trung bình vạt da là 197 cm2, trong đó vạt có kích thước lớn nhất là 21 × 11 cm.


Kết luận: Việc sử dụng vạt da vai tự do để tái tạo mô mềm tứ chi là đáng tin cậy. Vạt có cuống mạch hằng định với kích thước vạt lớn, độ dày vừa phải. Vị trí cho vạt có thể đóng da 1 thì, sẹo có tính thẩm mỹ và không làm giới hạn vận động.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Saijo M. The vascular territories of the dorsal trunk: a reappraisal for potential flap donor sites. British Journal of Plastic Surgery, 1978, 31 (3): 200-204. doi: 10.1016/s0007-1226(78)90082-6
[2] Watson S.B. Scapular flaps, parascapular flaps, circumflex scapular artery perforator flaps, and scapular osteocutaneous flaps. Flaps - Practical Reconstructive Surgery, 2017, 1: 427-433. doi: 10.1055/b-0037-142113
[3] Angrigiani C, Pefaure J, MackFarlane M. Scapular and parascapular flaps. In book: Flaps and Reconstructive Surgery, 1995, p. 215-218. doi: 10.1016/B978-0-7216-0519-7.00022-8
[4] Mai Trọng Tường. Khảo sát giải phẫu cuống mạch đầu xa đảo da cân thần kinh hiển ngoài, áp dụng và các cải tiến lâm sàng. Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, 2011.
[5] Đoàn Trung Hiếu. Ứng dụng vạt 2 thùy nhánh xuyên động mạch mũ vai điều trị phẫu thuật sẹo co kéo vùng nách di chứng bỏng. Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng, 2022, số 4: 7-14. doi: 10.54804/yhthvb.4.2022.155
[6] Dabernig J et al. The thin circumflex scapular artery perforator flaps. Journal of Plastic, Reconstructive and Aesthetic Surgery, 2007, 60 (10): 1082-1096. doi: 10.1016/j.bjps.2006.10.002
[7] Mitsimponas K.T et al. The free scapular/parascapular flap as a reliable method of reconstruction in the head and neck region: a retrospective analysis of 130 reconstructions performed over a period of 5 years in a single department. Journal of Cranio-Maxillo-Facial Surgery, 2014, 42 (5): 536-43. doi: 10.1016/j.jcms.2013.07.023
[8] Swartz W.M. The osteocutaneous scapular flap for mandibular and maxillary reconstruction. The annual meeting of the American Association of Plastic Surgeons, 1985, 77 (4): 530-545. doi: 10.1097/00006534-198604000-00003