KẾT QUẢ ÁP DỤNG LIỆU PHÁP OXY DÒNG CAO SAU RÚT ỐNG Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT SỌ NÃO NẶNG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kết quả áp dụng liệu pháp oxy dòng cao qua cannula mũi (HFNC) ngay sau rút ống nội khí quản và xác định các yếu tố liên quan đến thất bại HFNC ở bệnh nhân sau phẫu thuật sọ não nặng.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiến cứu thực hiện trên 60 bệnh nhân sau phẫu thuật sọ não nặng được hỗ trợ HFNC ngay sau rút ống nội khí quản. Các thông số lâm sàng, khí máu động mạch, điểm chăm sóc đường thở (Airway Care Score – ACS) và hình ảnh X-quang phổi được ghi nhận trước rút ống. Bệnh nhân được theo dõi trong 72 giờ đầu sau rút ống để ghi nhận suy hô hấp và thất bại HFNC. Thất bại HFNC được xác định khi bệnh nhân cần đặt lại nội khí quản hoặc cần sử dụng thông khí không xâm nhập (NIV) cứu vãn do suy hô hấp.
Kết quả: Có 14/60 bệnh nhân (23,3%) thất bại HFNC; tất cả các trường hợp này cuối cùng đều phải đặt lại nội khí quản. Nhóm thất bại có tỷ lệ thâm nhiễm phổi trên X-quang cao hơn đáng kể so với nhóm thành công (57,1% so với 15,2%) và điểm ACS cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Không ghi nhận sự khác biệt giữa hai nhóm về PaO₂/FiO₂, PaCO₂, nhịp thở, điểm Glasgow và thời gian thở máy trước rút ống. NIV cứu vãn được áp dụng ở 4 bệnh nhân thuộc nhóm thất bại nhưng đều không thành công do không hợp tác và suy giảm khả năng bảo vệ đường thở.
Kết luận: Trong nhóm bệnh nhân sau phẫu thuật sọ não nặng được hỗ trợ HFNC ngay sau rút ống nội khí quản, tỷ lệ thất bại là 23,3%. Thâm nhiễm phổi trên X-quang và điểm ACS cao có liên quan với thất bại HFNC ở phân tích đơn biến. HFNC có thể được xem là một chiến lược hỗ trợ hô hấp sau rút ống khả thi trong quần thể nghiên cứu; cần nghiên cứu có nhóm so sánh và mô hình đa biến để đánh giá rõ hơn hiệu quả cũng như các yếu tố tiên lượng độc lập.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
HFNC; phẫu thuật sọ não; suy hô hấp sau rút ống; chăm sóc đường thở.
Tài liệu tham khảo
2. Al Nufaiei ZF, et al. PLoS One. 2024;19(4):e0299693. doi:10.1371/journal.pone.0299693.
3. Boscolo A, et al. BMC Pulm Med. 2024;24(1):21. doi:10.1186/s12890-023-02820-x.
4. Basoalto R, et al. Ann Intensive Care. 2023;13(1):104. doi:10.1186/s13613-023-01203-z.
5. Taran S, et al. Am J Respir Crit Care Med. 2023;208(3):270–279. doi:10.1164/rccm.202212-2249OC.
6. Trần Hữu Đạt. Luận văn thạc sĩ y học. Trường Đại học Y Hà Nội; 2023
7. Tanwar G, et al. J Anaesthesiol Clin Pharmacol. 2019;35(1):85–91. doi:10.4103/joacp.JOACP_362_17.
8. Hernández G, et al. JAMA. 2016;315(13):1354–1361. doi:10.1001/jama.2016.2711.
9. Robba C, et al. Intensive Care Med. 2020;46(12):2397–2410. doi:10.1007/s00134-020-06283-0.