ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LIPID MÁU VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂN PHÚ

Lương Văn Sinh1, Võ Thị Thu Hà1, Bùi Thị Nhi1, Lê Thị Hồng Thắm1, Lưu Thị Thanh Bình1
1 Bệnh viện Đa khoa Tân Phú

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm và kết quả điều trị rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa Tân Phú.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả so sánh trước và sau điều trị trên 107 bệnh nhân đái tháo đường type 2 có chỉ định điều trị rối loạn lipid máu từ tháng 4-9 năm 2024. Bệnh nhân được xét nghiệm lipid máu trước điều trị và sau điều trị 3 tháng. Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên mục tiêu LDL-C theo phân tầng nguy cơ tim mạch. Số liệu được phân tích bằng phần mềm Stata 15.1.


Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 61 ± 10 tuổi; nữ chiếm 57,01%. Phần lớn bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao và rất cao (99,09%). Tỷ lệ rối rối loạn lipid máu là 89,72%, tăng triglyceride (69,16%), tăng non-HDL-C (58,88%) và giảm HDL-C (42,06%). Sau 3 tháng điều trị, tỷ lệ đạt mục tiêu LDL-C là 16,82%. Statin cường độ trung bình được sử dụng chủ yếu (71,96%). Thời gian mắc bệnh đái tháo đường type 2 và loại thuốc điều trị có liên quan đến kết quả kiểm soát LDL-C (p < 0,05).


Kết luận: Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ đạt mục tiêu LDL-C sau điều trị còn thấp. Việc tối ưu hóa cường độ Statin và phối hợp điều trị phù hợp với phân tầng nguy cơ tim mạch có thể giúp cải thiện hiệu quả kiểm soát lipid máu.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Jialal I et al. Management of diabetic dyslipidemia. World J Diabetes, 2019, 10 (5): 280-290. doi: 10.4239/wjd.v10.i5.280.
[2] Bộ Y tế. Quyết định số 5481/QĐ-BYT, ngày 30 tháng 12 năm 2020, về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2”.
[3] Hoàng Đức Thái và cộng sự. Kết quả điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân đái tháo đường type 2. Tạp chí Y học cộng đồng, 2022, 63, (2). doi: 10.52163/yhc.v63i2.289.
[4] Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam. Khuyến cáo: Chẩn đoán và điều trị rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường, 2019.
[5] Trịnh Quốc Khởi, Dương Phúc Lam, Phạm Thị Nhã Trúc. Tỷ lệ đái tháo đường type 2 có biến chứng thận và thực trạng phòng, chống biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đa khoa Cái Nước năm 2022-2023. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023, 531 (1B): 290-294. doi: 10.51298/vmj.v531i1B.7074.
[6] Nguyễn Thị Thu Cúc và cộng sự. Khảo sát thực trạng kiểm soát glocose máu ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 có nguy cơ tim mạch cao. Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam, 2022, 39, 66-74. doi: 10.47972/vjcts.v39i.804.
[7] Nguyễn Thị Thu Thủy và cộng sự. Nguy cơ tim mạch và bệnh lý tim mạch trên người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Tạp chí Y học cộng đồng, 2023, 64 (6): 125-130. doi: 10.52163/yhc.v64i6.820.
[8] Lê Thị Lan Anh và cộng sự. Thực trạng điều trị rối loạn lipid máu theo phân tầng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Nội tiết và Đái tháo đường, 2024, 66, tr. 56-62. doi: 10.47122/VJDE.2023.66.8.
[9] Knuuti J et al. 2019 ESC Guidelines for the diagnosis and management of chronic coronary syndromes. European Heart Journal, 2020, 41 (3): 407-477. doi: 10.1093/eurheartj/ehz425.
[10] Hội Tim mạch học Quốc gia Việt Nam. Khuyến cáo Điều trị rối loạn lipid máu, 2024.