CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ Ở PHỤ NỮ LOÃNG XƯƠNG SAU MÃN KINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2025
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống và tuân thủ điều trị ở phụ nữ loãng xương sau mãn kinh điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 220 phụ nữ loãng xương sau mãn kinh điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang từ tháng 8-12 năm 2025. Loãng xương được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang đo SF-36 và tuân thủ điều trị được đánh giá bằng thang GMAS.
Kết quả: Điểm chất lượng cuộc sống chung là 53,8 ± 11,6; điểm CLCS thể chất là 51,2 ± 13,1; điểm CLCS tinh thần là 56,6 ± 12,4; 54,5% người bệnh có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình; 39,1% có chất lượng cuộc sống thấp; 55,5% người bệnh chưa tuân thủ điều trị với điểm GMAS trung bình 25,8 ± 4,6. Nhóm người bệnh tuân thủ điều trị tốt có điểm chất lượng cuộc sống cao hơn so với nhóm chưa tuân thủ tốt (60,2 ± 9,8 so với 48,8 ± 10,4; p < 0,001).
Kết luận: Chất lượng cuộc sống của phụ nữ loãng xương sau mãn kinh điều trị ngoại trú ở mức trung bình và có mối liên quan với mức độ tuân thủ điều trị. Cần tăng cường tư vấn, cải thiện tuân thủ điều trị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Loãng xương, chất lượng cuộc sống, tuân thủ điều trị.
Tài liệu tham khảo
[2] Papaioannou A, Kennedy C.C, Ioannidis G et al. The impact of osteoporosis and fragility fractures on health-related quality of life in postmenopausal women. Osteoporos Int, 2009, 20 (4): 551-562. doi: 10.1007/s00198-008-0702-1.
[3] Bastounis A, Ntzani E, Tzavara C et al. Comparing medication adherence in patients receiving bisphosphonates for preventing fragility fractures: a systematic review and network meta-analysis. Osteoporos Int, 2022, 33 (6): 1223-1233. doi: 10.1007/s00198-022-06350-w
[4] Fatoye F, Smith P, Gebrye T, Yeowell G. Real-world persistence and adherence with oral bisphosphonates for osteoporosis: a systematic review. BMJ Open, 2019, 9 (4): e027049. doi: 10.1136/bmjopen-2018-027049.
[5] Curtis J.R, Westfall A.O, Cheng H, Lyles K, Saag K.G, Delzell E. The relationship between bisphosphonate adherence and fracture risk: results from the fracture intervention trial. J Bone Miner Res, 2011, 26 (4): 683-689. doi: 10.1002/jbmr.274.
[6] Hiligsmann M, Cornelissen D, Vrijens B, Abrahamsen B, Al-Delaimy W.K, Biver E et al. Determinants, consequences and potential solutions to poor adherence to anti-osteoporosis treatment: results of an ESCEO working group. Osteoporos Int, 2019, 30 (1): 25-37. doi: 10.1007/s00198-019-05104-5.
[7] Yeam C.T, Chia S, Tan H.C.C, Kwan Y.H, Fong W, Seng J.J.B. A systematic review of factors affecting medication adherence among patients with osteoporosis. Osteoporos Int, 2018, 29 (12): 2623-2637. doi: 10.1007/s00198-018-4759-3.
[8] Hoang Duc Khanh, Doan Minh Chau, Mai Lan Dung, Ho Le Thuy Phuong, Ho Pham Thuc Lan. Burden of osteoporosis in Vietnam: an analysis of population risk. PLoS One, 2021, 16 (6): e0252592. doi: 10.1371/journal.pone.0252592.
[9] Watkins R.E, Plant A.J, Sang D, O’Rourke T, Gushulak B. Development of a Vietnamese version of the short form-36 health survey. Asia Pac J Public Health, 2000, 12 (2): 118-123. doi: 10.1177/101053950001200211
[10] Nguyen Huong Thao, Truong Hong Van, Vi Tuyet Mai, Taxis K, Nguyen Thang, Nguyen Trung Kien. Vietnamese version of the general medication adherence scale (GMAS): translation, adaptation, and validation. Healthcare (Basel), 2021, 9 (11): 1471. doi: 10.3390/healthcare9111471.
[11] Nguyễn Thị Thu Huyền, Đinh Mạnh Hải. Tuân thủ điều trị ở bệnh nhân loãng xương sau bơm xi măng đốt sống tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2022, 154 (6): 44-51. doi: 10.52852/tcncyh.v154i6.782.