KẾT QUẢ XỬ TRÍ SUY THAI TRONG CHUYỂN DẠ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÁI BÌNH NĂM 2024
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả kết quả xử trí suy thai trong chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình năm 2024 và xác định một số yếu tố liên quan với kết quả ghi nhận được.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả thông qua một cuộc điều tra cắt ngang tiến cứu qua khảo sát kết quả xử trí suy thai trong chuyển dạ của 143 sản phụ được chẩn đoán là suy thai trong chuyển dạ tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình năm 2024, thu thập các thông tin về kết quả phía mẹ, kết quả về trẻ, điểm Apgar sau sinh và một số yếu tố liên quan với điểm Apgar của trẻ.
Kết quả: 100% sản phụ được lấy thai trong vòng 60 phút sau chẩn đoán, 100% mẹ và con ổn định khi ra viện. Tỷ lệ tai biến sản khoa thấp (4,2%) gồm nhiễm khuẩn hậu sản (2,1%) và băng huyết (1,4%). 100% thai đơn, cân nặng trung bình 3223,8 ± 306,0 gam. Chỉ số Apgar ≥ 8 điểm phút thứ nhất chiếm 93%; phút thứ 5 đạt 99,3%. Các yếu tố liên quan đến làm tăng nguy cơ chỉ số Apgar phút thứ nhất thấp (< 8 điểm) bao gồm: cơn co tử cung mau mạnh (p < 0,05); nhịp tim thai bất thường (p < 0,001), sản phụ có tai biến sản khoa (p < 0,005), nhịp tim thai chậm dưới 120 lần/phút (p < 0,001).
Kết luận: Xử trí suy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình đạt hiệu quả cao. Việc giám sát chặt chẽ các yếu tố liên quan đến tình trạng ngạt sơ sinh đóng vai trò tiên quyết trong tiên lượng và nâng cao hiệu quả xử trí suy thai trong chuyển dạ.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Suy thai trong chuyển dạ, chỉ số Apgar, kết quả xử trí.
Tài liệu tham khảo
[2] Moshiro R, Mdoe P, Perlman J.M. A global view of neonatal asphyxia and resuscitation. Frontiers in Pediatrics, 2019, 7: 489. doi: 10.3389/fped.2019.00489.
[3] Pashte S.V, Choudhari S.S. Diagnosis and management of fetal distress: a review based on modern concept and ancient ayurvedic granthas. European Journal of Biomedical and Pharmaceutical Sciences, 2016, 3 (1): 560-562.
[4] Trần Ngọc Hải, Nguyễn Hữu Thịnh, Đặng Minh Đức và cộng sự. Suy thai cấp. Báo cáo khoa học tại Bệnh viện Từ Dũ, thành phố Hồ Chính Minh, 2017.
[5] Đỗ Thị Hằng Nga. Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ và các biện pháp xử trí suy thai tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2018-2019. Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2019.
[6] Michaeli J, Srebnik N, Zilberstein Z et al. Intrapartum fetal monitoring and perinatal risk factors of neonatal hypoxic-ischemic encephalopathy. Arch Gynecol Obstet, 2021, 303: 409-417. doi: 10.1007/s00404-020-05757-2.
[7] Trương Thị Linh Giang. Nghiên cứu đặc điểm và thái độ xử trí suy thai cấp tại khoa Phụ sản Bệnh viện Trung ương Huế. Tạp chí Y Dược học, Trường Đại học Y Dược Huế, 2018, 8 (5): 20. doi: 10.34071/jmp.2018.5.3
[8] Kostro M, Jacyna N et al. Factors affecting the differentiation of the Apgar score and the biochemical correlation of fetal well-being - a prospective observational clinical study. Dev Period Med, 2018, 22 (3): 238-246. doi: 10.34763/devperiodmed.20182203.238246.
[9] Pathak V, Sahu D.S. Relation between immediate postpartum APGAR score with umblical cord blood pH and fetal distress. International Journal of Reproduction, Contraception, Obstetrics and Gynecology, 2019, 8 (12): 4690-4694. doi: 10.18203/2320-1770.ijrcog20195185.
[10] Siddiqui A, Cuttini M, Wood R et al. Can the Apgar score be used for international comparisons of newborn health? Paediatr Perinat Epidemiol, 2017, 31 (4): 338-345.