ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT KẾT HỢP BÀN NGÓN TAY TẠI KHOA NGOẠI CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH - LỒNG NGỰC, BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu xác định đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân gãy xương bàn ngón tay được phẫu thuật kết hợp xương tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế và đánh giá hiệu quả chăm sóc hậu phẫu của bệnh nhân sau phẫu thuật kết hợp xương bàn ngón tay.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu chùm ca bệnh, mô tả tiến cứu được thực hiện trên 41 bệnh nhân gãy xương bàn ngón tay được phẫu thuật kết hợp xương tại Bệnh viện Trường đại học Y Dược Huế từ tháng 9/2023 đến tháng 1/2024. Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn về các đặc điểm cá nhân kết hợp với quan sát vết thương và thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án.
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 39,7 ± 15,4, nam giới chiếm 75,6%. Vị trí gãy xương đốt bàn chiếm 56,1%, nhiều nhất là đốt bàn V và ngón V. Sau 7 ngày phẫu thuật, vết thương khô và còn đau nhẹ, vết mổ liền kỳ đầu không có các biến chứng chảy máu, nhiễm trùng vết mổ. Theo dõi kết quả kết quả hồi phục từ trung bình trở lên chiếm 95,1%.
Kết luận: Kết quả chăm sóc vết thương bàn ngón cho hiệu quả tốt.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Gãy xương bàn tay, gãy xương ngón tay, chăm sóc vết thương.
Tài liệu tham khảo
[2] Trần Trung Dũng. Chẩn đoán và điều trị gãy xương trật khớp chi trên. Nhà xuất bản Y học, 2020.
[3] Demmer W, Sorg H et al. Wound healing and therapy in soft tissue defects of the hand and foot from a surgical point of view. Medical sciences (Basel, Switzerland), 2021, 9 (4): 1-12. doi: 10.3390/medsci9040071.
[4] Crouch M. Pain management in wound care: taking a holistic approach. British journal of nursing (Mark Allen Publishing), 2025, 34 (20): S12-s7. doi: 10.12968/bjon.2024.0407.
[5] Carlsson A.M. Assessment of chronic pain. I. Aspects of the reliability and validity of the visual analogue scale. Pain, 1983, 16 (1): 87-101. doi: 10.1016/0304-3959(83)90088-X.
[6] Stark P.A, Myles P.S, Burke J.A. Development and psychometric evaluation of a postoperative quality of recovery score: the QoR-15. Anesthesiology, 2013, 118 (6): 1332-1340. doi: 10.1097/ALN.0b013e318289b84b.
[7] Nguyễn Thị Mỹ Anh, Nguyễn Thị Ngọc Bích, Lê Thị Thanh Xuân. Kết quả bước đầu ứng dụng công cụ QoR-15 trong đánh giá chất lượng phục hồi ở người bệnh sau phẫu thuật trong ngày. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 546 (3): 39-43. doi: 10.51298/vmj.v546i3.12689.
[8] Mai Đức Dũng, Vũ Duy Tân và cộng sự. Kết quả điều trị gãy xương bàn ngón tay bằng nẹp vít khóa tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, 2019, 207 (14): 243-248.
[9] Phạm Đình Dũng, Tăng Văn Thành. Đánh giá kết quả điều trị gãy xương bàn tay bằng phương pháp xuyên ngang đinh Kircher. Tạp chí Y học cộng đồng, 2024, 65: 154-161. doi: 10.52163/yhc.v65iCD1.979.
[10] Nguyễn Đăng Vững, Nguyễn Quốc Lữ. Đánh giá kết quả điều trị gãy xương bàn ngón tay bằng nẹp vít tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, 2025 (12): 170-176. doi: 10.59294/HIUJS20250149.
[11] Lê Minh Được, Phan Minh Hoàng, Nguyễn Lê Hoan. Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy xương bàn tay bằng phương pháp kết hợp xương nẹp vít. Tạp chí Y Dược Cần Thơ, 2023, 63: 43-47. doi: 10.58490/ctump.2023i63.1298.
[12] Lê Thị Mai Phương, Phan Thị Dung. Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật gãy hở xương chi trên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp năm 2021. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 517 (2): 203-207. doi: 10.54804/yhthvb.2.2022.128.
[13] Mai Thị Hương, Mai Thị Lan Anh. Thực trạng đau của người bệnh sau phẫu thuật kết hợp xương chi trên tại Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình Nghệ An năm 2024. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2024, 7 (5): 162-169. doi: 10.54436/jns.2024.05.879.