10. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KHÁNG THỂ KHÁNG NHÂN (ANA) BẰNG PHƯƠNG PHÁP MIỄN DỊCH HUỲNH QUANG GIÁN TIẾP (IFT) Ở NHÓM BỆNH NHÂN NGHI NGỜ BỆNH MÔ LIÊN KẾT

Trinh Thi Que, Tran Va Chỉu, Trieu Thuy Anh, Bui Va Thuong, Pham Thien Ngoc

Main Article Content

Abstract

Tóm tắt: bệnh mô liên kết là bệnh tiến triển mạn tính, kéo dài và gây ra nhiều biến chứng cho nhiều cơ quan. Chẩn đoán bệnh mô liên kết cần dựa trên sự kết hợp lâm sàng, xét nghiệm và hình ảnh.


Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm kháng thể kháng nhân ở bệnh mô liên kết bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IFT), từ đó đưa ra khuyến nghị về việc sử dụng các xét nghiệm kháng thể kháng nhân trong chẩn đoán bệnh mô liên kết.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1516 bệnh nhân đến khám tại hệ thống y tế MEDLATEC từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2025 với các triệu chứng nghi ngờ bệnh mô liên kết được chỉ định xét nghiệm ANA bằng phương pháp IFT, trong đó 82 bệnh nhân được chẩn đoán các bệnh mô liên kết.


Kết quả: Tỷ lệ dương tính với ANA là 62,1%, độ tuổi bệnh nhân nghi ngờ bệnh mô liên kết tập trung cao nhất từ 31-50 tuổi, tỷ lệ nữ chiếm 71,8%. Tỷ lệ dương tính với nhóm kháng thể Nuclear là cao nhất chiếm 66,59% sau đó đến nhóm kháng thể Cytoplasmic chiếm 27,38% và thấp nhất là nhóm kháng thể Mitotic chiếm 6,03%. Kiểu hình gặp nhiều nhất là nhóm Speckled (AC-2,4,5) với tỷ lệ 40,88% sau đó đến kiểu hình Speckled (AC-18,19,20) gặp tỷ lệ 18,84%, tiếp theo là kiểu hình Nucleolar (AC-8,9,10) chiếm 8,92%. Không gặp trường hợp nào dương tính với kiểu hình Speckled with mitotic plate AC-30 và Mitotic chromosomal coat (AC-28).


Kết luận: kháng thể kháng nhân bằng phương pháp IFT có giá trị chẩn đoán các bệnh mô liên kết và kết quả phân bố kiểu hình ANA cũng cung cấp cơ sở dữ liệu địa phương để cải thiện quản lý bệnh tự miễn, góp phần vào mục tiêu y tế công cộng toàn cầu về bệnh mô liên kết.

Article Details

References

[1] Tian J, Zhang D, Yao X. Global epidemiology of systemic lupus erythematosus: a comprehensive systematic analysis and modelling study. Ann Rheum Dis. 2023;82(3):351-358. doi:10.1136/ard-2022-223035
[2] Sridhar S, Vasanthy N. Evaluation of indirect immunofluorescence assay in patients with autoimmune diseases. Afr J Microbiol Res. 2012;6(22):4634-4638. doi:10.5897/AJMR11.1609
[3] Mayo Clinic Laboratories. Antinuclear Antibodies (ANA), Serum. Mayo Clinic Laboratories Neurology Catalog. Accessed September 8, 2025. https://neurology.testcatalog.org/show/ANA2
[4] Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Đức Tuấn, Tạ Thị Diệu Ngân. Khảo sát kháng thể kháng nhân của bệnh nhân mắc COVID-19 trong giai đoạn cấp. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2024;176(3):89-95.
[5] Ranganathan U, Rangasamy G. Antinuclear antibody patterns by indirect immunofluorescence test: An experience from a rural tertiary health centre of Puducherry. Indian J Microbiol Res. 2021;8(3):260-262. https://doi.org/10.18231/j.ijmr.2021.053
[6] Jain R, Bithu R, Yadav M, Aggarwal A, Lamba A, Khandelwal S. Antinuclear Antibody Detection by Immunofluorescence Test: Insight from a Tertiary Care Hospital, North Western India. Int J Pharm Clin Res. 2023;15(12):408-411. doi:10.26479/ijpcr.15.12.72
[7] Erazo-Martínez V, Peñaloza D, Rosero J, Posso-Osorio I, Castillo CM, Ortiz-Rojas HJ, et al. Antinuclear antibody staining patterns by indirect immunofluorescence assay observed in patients from a tertiary health center in Latin America. Rev Colomb Reumatol. 2024;31(3):296-303. doi:10.1016/j.rcreu.2023.05.001