ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY MÊ TOÀN THÂN BẰNG PROPOFOL KIỂM SOÁT NỒNG ĐỘ ĐÍCH DƯỚI HƯỚNG DẪN CHỈ SỐ LƯỠNG PHỔ BIS Ở BỆNH NHÂN SỬ DỤNG OXY LƯU LƯỢNG CAO KHI NGỪNG THỞ TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI DÂY THANH
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả gây mê và các tác dụng không mong muốn của gây mê toàn thân bằng propofol kiểm soát nồng độ đích (TCI) dưới hướng dẫn chỉ số lưỡng phổ BIS ở bệnh nhân sử dụng oxy lưu lượng cao khi ngừng thở trong phẫu thuật nội soi dây thanh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 130 bệnh nhân phẫu thuật nội soi dây thanh tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2025. Bệnh nhân được gây mê toàn thân bằng propofol TCI, giãn cơ rocuronium. Theo dõi độ mê sâu bằng BIS, các chỉ số huyết động, hô hấp, thời gian hồi tỉnh và các tác dụng không mong muốn. Kết quả: Thời gian gây mê trung bình là 30,06 ± 2,03 phút, tổng liều propofol trung bình 330,9 ± 18,2 mg. Thời gian hồi tỉnh trung bình 4,80 ± 1,20 phút. Các chỉ số huyết động và SpO₂ ổn định trong suốt quá trình nghiên cứu. Không ghi nhận tác dụng không mong muốn nghiêm trọng trên hệ tuần hoàn và hô hấp. Kết luận: Gây mê bằng propofol TCI dưới hướng dẫn BIS ở bệnh nhân sử dụng oxy lưu lượng cao khi ngừng thở trong phẫu thuật nội soi dây thanh cho hiệu quả kiểm soát độ mê tốt và hồi tỉnh nhanh, chưa ghi nhận biến cố bất lợi nghiêm trọng trên hô hấp và tuần hoàn.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Phẫu thuật nội soi dây thanh, oxy lưu lượng cao, propofol, BIS.
Tài liệu tham khảo
2. Beng Leong, L., N. Wei Ming, and L. Wei Feng, High flow nasal cannula oxygen versus noninvasive ventilation in adult acute respiratory failure: a systematic review of randomized-controlled trials. European Journal of Emergency Medicine, 2019. 26(1): p. 9-18. doi: 10.1097/MEJ.0000000000000557
3. Al-Rifai, Z. and D. Mulvey, Principles of total intravenous anaesthesia: basic pharmacokinetics and model descriptions. BJA Education, 2016. 16(3): p. 92-97.
4. Singh, H., Bispectral index (BIS) monitoring during propofol-induced sedation and anaesthesia. European journal of anaesthesiology, 1999. 16(1): p. 31-36. doi: 10.1046/j.1365-2346.1999.00420.x
5. Gussack, G.S., R.F. Evans, and E.J. Tacchi, Intravenous anesthesia and jet ventilation for laser microlaryngeal surgery. Annals of Otology, Rhinology & Laryngology, 1987. 96(1): p. 29-33. doi: 10.1177/000348948709600107
6. Khan, S.N., et al., Comparison of intubating conditions between induction with target-controlled infusion (TCI) of remifentanil and propofol with or without a topical lignocaine spray in elective surgery for adults. Anaesthesia, Pain & Intensive Care, 2025. 29(2): p. 163-169. doi: 10.35975/apic.v29i2.2699
7. Šafránková, P. and J. Bruthans, Target-Controlled Infusion of Propofol: A Systematic Review of Recent Results. Journal of Medical Systems, 2025. 49(1): p. 1-9. doi: 10.1007/s10916-025-02187-y
8. Wahid, I.U.I., et al., Propofol Target-Controlled Infusion (TCI) vs. Manual-Controlled Infusion (MCI)—Comparable Hemodynamic Stability with Reduced Propofol Consumption: Randomized Clinical Trial. Archives of Anesthesiology and Critical Care, 2025. doi: 10.18502/aacc.v11i5.19929
9. Tạ Đức Luận, Đánh giá hiệu quả vô cảm và tính an toàn của gây mê Propofol kiểm soát nồng độ đích cho nội soi tán sỏi niệu quản ngược dòng ở bệnh nhân ngoại trú. Tap chí Y dược lâm sàng 108, 2015.
10. Hà Thị Kim Tuyến, Nguyễn Ngọc Anh, Hà Ngọc Chi, Đánh giá hiệu quả của BIS trong gây mê kiểm soát nồng độ đích bằng Propofol trên phẫu thuật u tuyến yên qua mũi. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 2015. 19(1).